Trong quá trình sửa lại nếp mí mắt, người ta thấy một sự xuống/mất đi không gian trước cân cơ nâng mi và sự thiếu mỡ trước cân cơ nâng mi.
2 lớp trước và sau hòa thành 1 lớp. Người ta có thể hình dung điều này như cơ nâng mi bây giờ phải mang hoặc nâng sụn mi trên kháng lại tải trọng của mí mắt, trái ngược với sinh lí mí đôi bình thường là sụn mi trượt lên bên dưới lớp da trước và cơ vòng mi.
Da/cơ vòng mi hoạt động như một ‘lớp chống lại’ đổi với lớp sau của cơ nâng mi. Sự vắng mặt hoặc sự hiện diện của vùng trượt này (mỡ trước cân cơ nâng mi trong không gian của nó) ở giữa hai lớp có thể gây trở ngại hoặc tạo điều kiện hình thành nếp mí.

Tạo hình nếp mí mắt
Bác sĩ đã quan sát thấy sự hiện diện của túi mỡ sẽ tạo mí mắt ban đầu, mỡ thâm nhập vào vùng trượt sẽ gây cản trở hình thành nếp mí. Việc định vị cẩn thận mỡ ở vị trí cao hơn sẽ tạo điều kiện cho nếp mí hình thành tốt.
Các nếp mí hoạt động đúng được mô tả bởi Tiến sĩ Khoo Boo-Chai trong bài viết năm 1963 giống như tấm che mặt của mũ bảo hiểm xe máy. Ngoài ra, Flowers đã đề cập về ý tưởng đính da tạo mí ở mức độ thấp hơn của mỡ trước cận cơ nâng mi hoạt động như một quả bóng mang tại điểm kết hợp vách ngăn-tới-cân cơ nâng mi (mức độ thấp hơn của vùng trước cân cơ nâng mi).
Khái niệm của tôi có khác với các tác giả này theo cách: không gian trước cân cơ nâng mi, sự hiện diện và sự bảo tồn với túi mỡ bên trong nó, là một ‘lớp thứ ba’ cần thiết và tính mềm mại cần được bảo toàn nguyên vẹn. Trong sơ đồ, vùng giữa (vùng trượt), nơi các túi mỡ trước cân cơ nâng mi có màu vàng và hoạt động giống như một lớp không ma sát cho phép lớp sau (màu hồng đậm) lướt lên.
Việc dựng hình véc-tơ của tấm biển được tạo điều kiện bởi vùng trượt này, cho phép nó trượt lên trên so với nếp mí mắt thụ động để tạo thành một nếp mí. Lớp da lướt qua lớp sau (phần trên của tấm sụn mi) trong vài mm trong quá trình tạo nếp mí và trở thành nếp mí mắt.
Thiếu vắng tổ chức dính và túi mỡ hiện diện trong vùng trượt này cho phép mặt phẳng trước sụn (lớp sau) dịch chuyển và lướt nhẹ một chút ở phía dưới mí mắt (lớp trước) để tạo hình nếp mí sinh lý.
Như đã đề cập trước, độ trượt này có thể chỉ khoảng 2-4 mm cho nếp mí thụt vào trong dưới nếp gấp, gồm da, cơ vòng mi và vách ngăn ổ mắt phát sinh từ mép ngoài của bờ trên ổ mắt. Lớp phía trước treo từ bờ trên ổ mắt và bờ ngoài nông hơn, trong khi lớp sau bắt nguồn từ đỉnh ổ mắt và lớp sâu-nông co lại thì nằm trên bề mặt của mắt.
Các phát hiện điển hình sau khi phẫu thuật tạo mí chưa tốt ở người châu Á và bất kỳ hiện tượng khi phẫu thuật thẩm mỹ mí như: sưng nề, xuất huyết từ cơ vòng mi, hoặc chảy máu bất kỳ, loại bỏ mỡ quá nhiều trong vùng trước cân cơ nâng mi, và tạo nếp mí chưa đủ dựa trên nguyên lí sinh học.
Khi hết sưng, một hoặc nhiều hiện tượng sau đây có thể xuất hiện: sụp mi, hõm mí, sự hình thành không đầy đủ hoặc nếp mí nhiều đường (có hoặc không có nếp mí chính).
Đây là tất cả các dấu hiệu liên quan đến thao tác quá mức hoặc kỹ thuật không phù hợp vào mô trong vùng trượt, với các tổ chức dính liên quan đến cơ vòng mi vách ngăn và cân cơ nâng mi.
Có nghĩa là xóa bỏ không gian trượt này bằng cách cắt vát để bỏ mỡ, sẹo sau chảy máu quá mức hoặc xử lý trong vùng trước cân cơ nâng mi, hoặc dính liên quan đến cơ vòng mi, vách ngăn ổ mắt và cân cơ nâng mi.

Các dấu hiệu bất thường của nếp mí mắt
Trong quá trình lành vết thương, nếp mí mắt có thể biểu hiện sụp mi hoặc khó nhìn lên, với nếp mí không rõ. Bệnh nhân than phiền là họ cố gắng mở mắt, khó nhìn lên và phần trên của thị trường bị hạn chế (với thời gian, một loại sụp mi có thể tiến triển thành sụp mi mắc phải do suy yếu thực sự của cơ nâng mi).
Da trước sụn và da trước vách ngăn có thể xuất hiện như một vùng mảng da dày và lồi tương đối nằm ngang nhãn cầu. Điều này được chỉ định bởi một hoặc tất cả những điều sau đây:
Bước 1. Bệnh nhân nhìn xuống, người kiểm tra nhẹ nhàng đặt ngón tay trỏ của mình lên trên phần giữa của da trước sụn và đẩy nhẹ hoặc lướt lớp da/cơ phía trước lên trên.
Nếu lớp da/cơ trước không di chuyển lên trên > 2 mm hay bờ mi di chuyển theo thì đó là dấu hiệu bất thường của vùng trượt (bệnh nhân nên tránh nhắm mắt bởi vì điều này gợi ra sự tương phản tích cực của cơ vòng mi).
Bước 2. Khi bệnh nhân nhìn xuống, dùng ngón tay cái và ngón trỏ của mình để cố gắng cầm lớp da ở vùng phía trước vách ngăn nhấc lên khỏi tổ chức bên dưới nó. Nếu điều này là không thể, cho thấy là lớp sau và bờ mi sẽ tách ra khỏi nhãn cầu, đây là gợi ý là mất vùng trượt, tạo thành một dấu hiệu kẹp da bất thường.
Bước 3. Bệnh nhân được yêu cầu nhìn xuống, và cố định lông mày để chặn cơ trán hoạt động. Sau đó, chúng ta nhất da vùng trước vách ngăn lên, bảo bệnh nhân nhìn lên. Khi bệnh nhân nhìn lên, cơ thẳng trên và cơ nâng mi đều co lại.
Bình thường là bờ mi bên dưới di chuyển lên một cách độc lập mà không phụ thuộc vào da đã kẹp nhấc lên. Nếu ngón tay cảm thấy bị kéo giật lên thì chứng tỏ lớp trước và lớp sau bị dính nhau và là một dấu hiệu kéo da ‘nhìn lên’ bất thường.
Biến chứng khi tạo nếp mí
Các biến chứng hay gặp mà khó thực hiện là xóa bỏ vùng trượt. Kỹ thuật đơn giản khi khâu cố định da cân cơ nâng mi qua đường kết mạc, chảy máu bất ngờ và đột ngột đã được báo cáo và có thể gây ra khi làm tổn thương các mạch thông nối như: cung mạch bờ mi, cung mạch ngoại vi, cung mạch ổ mắt sâu, và cũng có thể liên quan đến động mạch vách ngăn-cân cơ nâng mi đã mô tả gần đây được tìm thấy trong một tỷ lệ nhỏ nhất định.
Chảy máu có thể xảy ra trong mặt phẳng sau cân cơ nâng mi nếu các mạch quặt ngược từ sụn mi hoặc cân cơ nâng mi, hoặc trong vùng trước cân cơ nâng mi (vùng trượt). Độ dính có thể tan dần do cục máu đông tan dần và dẫn đến sự không đều trong khi tạo nếp mí. Theo thời gian, từng phần, từng đoạn, hoặc nếp mí có thể biến mất hoàn toàn.
Tóm lại, nếp mí mắt là sự lõm vào giải phẫu của da mí dọc theo bờ trên sụn mi. Nó có nguồn gốc từ sự tương tác phức tạp của các lực vectơ bao gồm: cơ nâng mi tốt (lớp sau), sự hiện diện của da/cơ vòng mi ở vùng trước vách ngăn sẽ tạo nên nếp gấp (lớp trước), sự hiện diện của một lớp thứ ba được gọi là lớp trượt với các túi mỡ bình thường, và không hình thành sẹo tại mặt trước và sau của lớp này.
Cơ sở lý thuyết cho việc bảo tồn lớp thứ ba này – vùng trượt – và vai trò của nó trong quá trình tạo nếp mí trên, như được mô tả trong chương này nên cung cấp thêm sự hiểu biết trong việc phẫu thuật tạo mí và khi phẫu thuật thẩm mỹ sửa lại mí phức tạp.

