Chìa khóa cho sự an toàn trong phẫu thuật khuôn mặt là sự hiểu biết chính xác về giải phẫu các mô ở mặt.
Vị trí của dây thần kinh mặt thường hằng định, trong khi sự phân nhánh trên mặt phẳng của nó có thể thay đổi. Nắm được giải phẫu các lớp của khuôn mặt và mối liên quan của nó với dây thần kinh mặt cung cấp cho phẫu thuật viên khả năng thực hiện các quy trình thẩm mỹ và tạo hình khuôn mặt an toàn.

Các lớp trên khuôn mặt
Da
Độ dày và mạch máu của da khác nhau ở mỗi bệnh nhân.
Khi thực hiện căng da mặt hoặc nâng vạt da cổ để trẻ hóa khuôn mặt, chìa khóa để đảm bảo an toàn là là thực hiện phẫu thuật bên trong lớp mỡ ngay trên SMAS.
Dùng ánh sáng chiếu từ bên đối diện để xác đinh bề mặt nằm giữa lớp mỡ dưới da và lớp cân mạc nông rất hữu ích trong việc xác định mặt phẳng phẫu thuật chính xác.
Mỡ dưới da
Lớp mỡ dưới da là mặt phẳng phẫu thuật thường được ứng dụng trong cả các quy tình tạo hình, thẩm mỹ và phẫu thuật khuôn mặt. nó nằm xen kẽ giữa da và cân mạc nông.
Mỡ dưới da mặt không phải là một cấu trúc đồng nhất mà được phân tách thành một loạt các “ngăn chứa mỡ” riêng biệt.
Vách ngăn dạng sợi bắt nguồn từ các dây chằng phân tách mỡ dưới da. Chúng đi từ các cấu trúc ở sâu như tuyến mang tai để hòa vào SMAS và đi vào lớp da bên trên. Quá trình phẫu thuật tiến hành từ ngăn mỡ này đến ngăn mỡ liền kề trên khuôn mặt có thể gây chảy máu từ các mạch này.
Cả chiều dày và mật độ mỡ trong mỗi ngăn đều khác nhau khi phẫu tích, từ vùng trước tai về phía trước đến nếp mũi má.
– Khoang bên, ở vùng trươc stai, có xu hướng mỏng, đặc và nhiều mạch, trong khi mỡ trong khoang giữa có xu hướng dày, xốp, vô mạch và dễ bóc tách.
– Chuyển từ khoang giữa sang khoang mỡ má gặp các dây chằng zygomatic và các mạch xuyên từ động mạch mặt ngang nên sự bóc tách dọc theo khoang hàm bên có xu hướng vừa xơ dính vừa chảy máu.
Mỗi khoang mỡ trên khuôn mặt có xu hướng thoái triển riêng, các ngăn phía ngoài thoái triển từ lúc 40 đến 50 tuổi, thoái triển khoang mỡ má có xu hướng xảy ra sau đó một thập kỷ. Bản chất giải phẫu của hiện tượng này giải thích tại sao tình trạng thoái triển mỡ trên khuôn mặt cõ xu hướng xảy ra theo vùng, thay vì đồng nhất trong quá trình lão hóa da mặt.
SMAS (cân mạc nông của mặt)
SMAS là cân mạc nông của mặt và tương tự như các cân nông những nơi khác trên cơ thể. Nó liên tục với lớp mạc nông ở cổ và kéo dài về phía da đầu, tạo thành một lớp mạc nối liên tục giữa đầu và cổ.
Lớp mạc nông có liên quan mật thiết với lớp, mỡ dưới da ở mặt và da thông qua các phân nhánh của các dây chằng được gọi là retinacula cutis. SMAS, mỡ dưới da và đại diện cho đơn vị di động của mô mềm trên khuôn mặt.
Phẫu thuật khuôn mặt có nhiều biến đổi hình tái do mất sự hỗ trợ từ các dây chằng ở sâu, cho phép thành phần di động của mô mềm trên khuôn mặt thay đổi sự liên kết của nó với các cấu trúc cố định ở sâu, điều này giải thích cho việc giảm khối lượng mỡ trên mặt và lão hóa hướng tâm.

Các lớp cơ cần biết khi phẫu thuật khuôn mặt
Cơ biểu hiện nét mặt
Các cơ biểu hiện nét mặt, tạo ra chuyển động cả da mặt bên trên có liên quan mật thiết với lớp cân mạc nông, lớp mạc này đóng vai trò là sự kết nối giữa cơ và da. Mói liên quan giải phẫu giữa SMAS và cơ biểu hiện nét mặt là lớp cân cơ nông lót cả bề mặt bề ngoài và bề mặt sâu của cơ. Các cơ có SMAS được kết nối với lớp da bên ngoài bằng các sợi xơ, cho phép cơ co để tạo ra chuyển động của da mặt.
Từ góc độ phẫu thuật, hầu hết các cơ biểu hiện nét mặt đều nằm nông hơn thần kinh mặt. Thần kinh phân bố dọc theo bề mặt sâu của chúng.
Chỉ có ba cơ nằm sâu trong mặt phẳng của dây thần kinh mặt. Những cơ nằm sâu này bao gồm cơ nâng góc miệng, cơ cằm và cơ mút. Vì ba cơ này nằm dưới nên thần kinh mặt phân bố thần kinh ở bề mặt mặt bên ngoài của chúng.
Ý ngĩa của mối liên quan giải phẫu giữa độ sâu của cơ và phân bố thần kinh của nó có liên quan ddeens sự chấn thương dây thần kinh mặt. Vì hầu hết các cơ đều nhận được sự chi phối dọc theo mặt sâu của chúng nên trong quá trình phẫu tích việc tiến hành bóc tách dọc theo bề mặt bề ngoài của cơ này sẽ ngăn ngừa chấn thương nhánh vận động.
– Ví dụ: khi phẫu thuật phẫu tích cơ bám da cổ ở má dưới và cổ, việc bóc tách bề mặt cơ sẽ tránh làm tổn thonwg cả nhánh thần kinh cổ và thần kinh bờ hàm dưới đi dưới cơ này.
– Tương tự như vậy, khi phẫu thuật ở vùng má, việc phẫu tích bên ngoài cơ vòng mi, cơ gò má lớn và nhỏ sẽ bảo tồn phân bố thần kinh, vì thần kinh chi phối những cơ này nằm ở mặt sâu của chúng.
Cân cơ sâu
Tương tự như SMAS, cân cơ sâu là tiếp nối của mạc cổ sâu đi lên vùng mặt và tương tự về mặt giải phẫu với cân sâu ở những nơi khác trên cơ thể.
Mặc dù là một lớp liên tục, các khu vực khác nhau của cân cơ sâu đã được đưa ra danh pháp cụ thể. Bên trên tuyến mang tai, phần mạc sâu được gọi là mạc mang tai; phía trên cơ cắn, lớp mạc sâu được gọi là mạc cơ bản và trong vùng thái dương, nó thường được gọi là mạc thái dương sâu.
ĐIỂM QUAN TRỌNG CẦN NHỚ LÀ TẤT CẢ CÁC NHÁNH THẦN KINH MẶT Ở MÁ NẰM SAU MẠC SÂU SAU KHI RA KHỎI TUYẾN MANG TAI.
Do đó, phẫu tích bên ngoài lớp cơ sâu sẽ ngăn ngừa tổn thương nhánh vận động ở hầy hết các vùng của má. Từ góc độn giải phẫu học, chính sự hiện diện của lớp mạc sâu cho phép tiến hành phẫu tích dưới SMAS an toàn, vì cân mạc sâu đóng vai trò như một lớp xen kẽ giữa lớp dưới SMAS và các nhánh thần kinh mặt.
Dây thần kinh mặt, ống dẫn tuyến mang tai và đệm mỡ má
Dưới cân mạc sâu là dây thần kinh mặt, ống mang tai và đệm mỡ má.
Đây là mặt phẳng cần phải tránh trong qua strinhf phẫu tích má.
Dưới mặt phẳng của dây thần kinh mặt là những cấu trúc cố định của khuôn mặt, bao gồm tuyến mang tai, cơ cắn, khoang mỡ sâu và màng xương.

