Khi cắt mí mắt bị sụp, bác sĩ sẽ kéo mí mắt lên trên nên có thể sẽ xảy ra hiện tượng hở mi tạm thời trong thời gian đầu sau phẫu thuật.
Để ngăn ngừa biến chứng này thì bác sĩ cần kiểm tra cơ chế bảo vệ mắt của khách hàng và thông báo trước cho khách hàng về những vấn đề chắc chắn sẽ xảy ra như lid lag hay hở mi. Những vấn đề như khô mắt nghiêm trọng, liệt mặt, rối loạn chức năng cơ thẳng trên (superior rectus muscle) hay hiện tượng Bell không hoạt động cần được kiểm tra kỹ lưỡng trước ca phẫu thuật. Nếu chức năng bảo vệ mắt bị suy yếu hoặc không hoạt động thì khi phẫu thuật cần hết sức cẩn thận để tránh chỉnh sửa quá mức.
Quy luật Hering
Cơ nâng mi là các cơ phối vận, có nghĩa là chúng hoạt động đồng thời với nhau. Do đó, các xung động thần kinh đi vào một mí mắt sẽ ảnh hưởng đến cả mí mắt còn lại. Khi mức độ sụp mí ở hai mắt khác nhau nhau thì sẽ có thêm xung thần kinh để mở bên mắt bị sụp nặng hơn. Do quy luật Hering, bên mắt sụp nhẹ hơn ban đầu có thể trông vẫn giống như mắt bình thường nhưng mức độ sụp sẽ trở nên rõ rệt sau khi chỉ phẫu thuật cho bên bị sụp nặng. Đây được gọi là sụp mí ẩn.
Có thể kiểm tra hiện tượng này bằng cách nhẹ nhàng nâng bên mí mắt bị sụp lên trong khi khách hàng nhìn cố định vào một điểm phía trước. Sau đó đánh giá xem vị trí của mí mắt ở bên kia có gì thay đổi hay không. Nếu chỉ số MRD1 giảm thì có thể coi là kết quả dương tính (sau khi phẫu thuật một bên thì mí mắt còn lại cũng sẽ bị sụp) và cần ghi lại chỉ số MRD1 mới. Còn nếu vị trí của mí mắt không thay đổi sau 30 giây thì có nghĩa là kết quả kiểm tra âm tính (mí mắt còn lại sẽ vẫn bình thường sau phẫu thuật).
Một phương pháp nữa để chẩn đoán tình trạng sụp mí ẩn là giữ bên mắt bị sụp mí trong 15 giây trở lên và nhỏ phenylephrine 10% hoặc 2%. Nếu mí mắt ở bên kia cũng bị xệ xuống thì nên phẫu thuật cho cả hai bên.
Tuy nhiên, kể cả khi kiểm tra quy luật Hering cho kết quả âm tính thì vẫn có một số trường hợp chỉ số MRD giảm và mí mắt còn lại bị sụp sau phẫu thuật.
Phẫu thuật một bên hay cả hai bên?
Ở những người mà hai mắt bị sụp mí không đều hoặc chỉ bị sụp ở một bên thì vẫn cần kiểm tra cả bên mắt bằng cách nâng mí mắt, nhắm mắt hoặc nhỏ phenylephrine vào bên bị sụp. Nếu vị trí của bên mí mắt bình thường hạ xuống thấp thì kết quả được coi là dương tính, có nghĩa là cả hai bên đều bị sụp mí. Trong những trường hợp như vậy thì tốt nhất là nên phẫu thuật cho cả hai mắt, nếu chỉ phẫu thuật cho một bên thì bên còn lại sẽ có nguy cơ bị xệ sau phẫu thuật rất cao.
Nếu sau khi kiểm tra mà bên mắt còn lại không bị sụp mí ẩn thì có thể chỉ cần phẫu thuật ở một bên. Trong những trường hợp như vậy thì nên nâng mí mắt lên cao hơn 1 – 2mm so với bên không sụp. Lí do là bởi khi mới phẫu thuật xong, dung dịch thuốc gây tê và epinephrine vẫn còn tác dụng làm cơ vòng mi bị tê liệt và kích thích cơ Muller, khiến mí mắt bị kéo lên cao. Khi hết tác dụng, mí mắt sẽ tự hạ xuống thấp 1 – 2mm. Tuy nhiên, việc phẫu thuật sụp mí cho cả hai mắt vẫn đem lại nhiều lợi ích hơn cả về mặt chức năng và thẩm mỹ của mí mắt vì ở những người chỉ phẫu thuật một bên, ngay cả khi trước đó kiểm tra quy luật Hering cho kết quả âm tính thì bên mắt còn lại vẫn nguy cơ bị sụp sau phẫu thuật.
Hướng của lông mi
Andrew R. Harrison đã chia hướng của lông mi ở người phương Tây thành 4 loại chính là bình thường, nhẹ, vừa và nặng. Nhưng lông mi của người Châu Á lại thường được chia thành 5 cấp độ (từ 1 đến 5) với mỗi cấp lại tăng thêm 15°. Ở cấp độ 1 thì lông mi vuông góc với mặt phẳng thẳng đứng của khuôn mặt. Ở cấp độ 5, lông mi tạo với mặt phẳng thẳng đứng này một góc 60°.

Sụp lông mi là vấn đề thường xảy ra phổ biến ở mắt bị sụp mí. Khi phẫu thuật thẩm mỹ sụp mí, để kiểm tra tình trạng sụp lông mi đã được khắc phục hay chưa thì có thể quan sát hướng của lông mi khi khách hàng ở tư thế nằm. Thông thường ở người Châu Á, vấn đề sụp lông mi ở vùng khóe mắt thường trở nên nặng hơn do nếp rẻ quạt cũng như là sự lỏng lẻo của các cấu trúc vùng khóe mắt ví dụ như điểm bám của cơ vòng mi vào sụn. Vì thế, bác sĩ cần chú ý nhiều hơn đến tình trạng sụp lông mi ở vị trí này và nếu cần thiết thì có thể tiến hành phương pháp mở rộng góc mắt trong để xử lý các yếu tố gây trở ngại.
Lựa chọn phương pháp cắt mí mắt bị sụp
Nhìn chung thì có ba phương pháp phẫu thuật để khắc phục sụp mí: một là phẫu thuật cơ nâng mi, hai là phẫu thuật cắt kết mạc – cơ Muller hoặc phương pháp Fasanella-Servat (cắt sụn mi – kết mạc – cơ Muller) và ba là treo cơ trấn.

Mặc dù phẫu thuật cơ nâng mi là kỹ thuật phổ biến nhất để khắc phục sụp mí nhưng bác sĩ cần cân nhắc đến phương pháp treo cơ trán nếu chức năng cơ nâng mi kém (kết quả kiểm tra dưới 4mm). Có thể chọn phương pháp cắt kết mạc – cơ Muller đối với những trường hợp bị sụp mí mắt nhẹ và chức năng cơ nâng mi vẫn còn tốt (kết quả kiểm tra trên 10mm). Dù chức năng cơ nâng mi tốt hay kém và sụp mí ở bất kỳ mức độ nào thì trong ca phẫu thuật vẫn cần kiểm tra tình trạng của cơ nâng mi từ sụn mi đến dây chằng Whitnall.
Nếu cảm thấy ca phẫu thuật khó cho ra kết quả tối ưu do thoái hóa mỡ nghiêm trọng và có những vấn đề do xơ hóa thì cần chuyển sang phương pháp treo cơ trán ngay lập tức. Vì thế, trong trường hợp sụp mí nặng hoặc chức năng cơ nâng mi kém thì trước khi phẫu thuật, bác sĩ cần thảo luận với khách hàng về khả năng phải thay đổi kế hoạch ban đầu trong khi tiến hành. Mặc dù tâm lý đa số khách hàng là không muốn bị sẹo nhưng chỉ sau 2 – 3 tháng sau phẫu thuật là đã gần như không còn thấy vết sẹo nữa.

