Thẩm mỹ cắt mí mắt giá bao nhiêu, hiện nay chi phí cắt mí có nhiều mức giá khác nhau từ spa, cơ sở thẩm mỹ, bệnh viện thẩm mỹ, điều quan trọng là chọn đúng bác sĩ có chuyên môn và kinh nghiệm đảm bảo được sự an toàn và thẩm mỹ. Rất nhiều những biến chứng không mong muốn đã xảy ra, không ảnh ảnh hưởng đến mắt mà còn toàn bộ gương mặt.
Khâu da và kiểm soát vết mổ
Khâu da mà không để lại chân chỉ luôn là điều mong muốn khi khâu vùng da mí trên (qua một nếp mí hiện có). Nếu cố gắng thực hiện thao tác cần thiết đến mức độ chính xác mà đã có kế hoạch, thực hiện quy trình mà không gây sang chấn vùng mổ đáng kể và kết thúc mà không gây ra tổn thương so với trước đó, để lại những trường hợp có khi phải mổ lại về sau, đó sẽ là lý tưởng. Về bản chất, cách ninja. (Sự phổ biến của những người làm nội soi và robot được cơ bản tuân theo tiền đề này). Tất nhiên, không ai trong chúng ta tốt như những nhân vật huyền thoại này. Tuy nhiên, người ta nên suy nghĩ, phân tích và lập kế hoạch để thực hiện quy trình.
Có nhiều yếu tố góp phần vào việc lành vết mổ đẹp. Chúng ta thường chỉ nghĩ áp dụng các mũi khâu, buột chỉ, thay băng và cắt chỉ như các yếu tố chính. Trong khi tất cả những điều này tất nhiên là quan trọng, nhưng có những khía cạnh của kỹ thuật phẫu thuật đặc biệt góp phần rất lớn vào việc lành tự nhiên, cho phép vết mổ lành da tự nhiên và hoạt động như đã được thiết kế.

Các chương trước đã nói về cách thiết kế để tạo nếp mí, nơi nếp mí được đặt sao cho nó phù hợp với cấu trúc nếp mí động hai bên như nhau, mặt phẳng vát (xiên) đi ngang qua các lớp khác nhau của mí mắt, và khâu da. Theo tôi, cách phân phối phẫu thuật ở một mặt phẳng xiên và thực hiện việc cắt bỏ mô thành một khối, phản ứng mô tại chỗ sẽ giảm đi rất nhiều. Kiểm soát chảy máu nhẹ nhàng được thực hiện ngay lúc rạch da, mở vách ngăn cao hơn vết mổ trên da, túi mỡ được bảo tồn và cắt bỏ khối hình thang cho phép cắt nhiều cơ vòng mi hơn da. Đường rạch trên sao cho khi cắt đi không bị thiếu da, và khi khâu da thì tạo ra được nếp mí mắt. Tương tự như vậy, sự cắt tỉa một ít mô dưới da dọc theo vết mổ cũng cho phép đóng da không căng. Vì vậy, ta nên thiết lập tiêu chuẩn để tạo điều kiện lý tưởng cho lành vết mổ, và giảm phù nề sau phẫu thuật cắt mí mắt.
Các kỹ thuật khâu khác nhau được sử dụng trong các phương pháp rạch bên ngoài đã được thảo luận. Chúng bao gồm đính da trên sụn mi, đính da về phía cơ nâng mi, hoặc dọc theo bờ trên sụn mi, và dính phần dưới của cơ vòng mi vào phần bán tận của cơ nâng mi.
Tất cả những kỹ thuật này đều là kỹ thuật đóng da bằng kỹ thuật cơ bản, nhưng người ta có thể không nghĩ đến việc thực hiện lâu hơn, đến mức chi tiết hơn (thực ra ở mức độ vài phút). Tôi cho rằng dao mổ sẽ giúp nhiều cho bác sĩ phẫu thuật, hoặc góc đầu nhọn của lưỡi dao liên quan đến bề mặt da khi rạch da, tất cả đều quan trọng.
Quan niệm nếp mí động và nếp mí tĩnh
Nếp mí mí động là nếp mí rõ ràng khi nhìn lên về phía trước và nhưng có xu hướng mờ dần khi nhìn xuống, và hầu như rõ lắm khi nhìn thẳng 90° với bề mặt da. Nếp mí tĩnh là nếp mí nhìn thấy rõ ở ba vị trí: nhìn lên, thẳng về phía trước và nhìn xuống, khi góc quan sát là 90°. Do đó, nếp mí động trông giống như nếp mí tự nhiên
Để tạo thành nếp mí động, các sợi bán tận của cơ nâng mi ở bờ trên sụn mi phải được hướng đến mặt phẳng dưới da của đường rạch dưới.
Nghĩa là phải đóng da hơi xiên từ bờ da trên đến bờ da dưới, đó cũng là đề tài để tranh luận về cách tạo ra các kết dính chỉ từ các sợi bán tận cơ nâng mi đến bờ dưới vết mổ, hoặc cho cả da bờ trên và dưới. Đó là điều cần thiết để khi khâu tạo mí phải nới lỏng hay thắt chặt hơn, để cho phép da trên mí phủ dọc da của bờ trên sụn mi mà không quá căng. Bảo bệnh nhân nhìn lên và nhìn xuống trước và sau khi đặt mũi khâu tạo mí.
Khâu da-sụn mi-da có xu hướng tạo ra một nếp mí tĩnh. Trong kỹ thuật của tôi, sử dụng chỉ silk 6-0 hoặc nylon để khâu mũi đơn kết nối bờ da dưới với cơ nâng mi dọc theo bờ trên sụn mi, và sau đó đến bờ da trên. Bên cạnh các mũi khâu ở giữa nếp mí, tôi áp dụng ba chỉ khâu ở trong và hai đến ba mũi khâu bên ngoài. Với 6 hoặc 7 mũi khâu tạo nếp mí, phần còn lại được đóng da bằng 6-0 hoặc 7-0 nylon khâu liên tục hoặc dưới da. Khi khâu liên tục chỉ khâu đến lớp hạ bì, mà không cần lấy cơ vòng mi. Mục tiêu ở đây sẽ là tránh sự xuất huyết từ cơ vòng mi và để cung cấp một mặt phẳng tối ưu để đóng da. Trong phương pháp này, tất cả các chỉ khâu đều cắt bỏ sau mổ.
Phương pháp khâu đính tổ chức dưới da đơn thuần, hoặc cơ vòng mi vào cơ nâng mi, thường liên quan đến khâu chôn, không tiêu. Tôi đã gặp những bệnh nhân phàn nàn về tính chất tĩnh của nếp mí do việc sử dụng các chỉ khâu vùi, và một số phàn nàn về sự kích thích mí mắt do chỉ khâu bị chôn trong mí mắt của họ.
Hình dạng nếp mí và nếp mí động
Tương tác động của mặt phẳng trước sụn và vùng trước cơ nâng mi.
Người ta có thể chia mí mắt trên thành ba vùng: nếp mí mí mắt (hoạt động cuộn như quả bóng, xem Chương 23), vùng dưới nó và vùng phía trên nó. Mục tiêu của các bác sĩ phẫu thuật trong việc hình thành hoặc làm thêm nếp mí mí mắt:
- Để tạo điều kiện nếp mí cuộn vào trong nếp gấp là làm giảm lớp mô mềm phủ qua bằng cách cắt bỏ tổ chức thừa trước cân cơ nâng mi, tổ chức cản trở sự hình thành nếp mí, hoặc bằng cách cố định trục xoay thông qua các mũi chỉ khâu (ít hơn hiệu quả hơn, và dễ bị mất nếp mí). Bằng cách tạo ra một vùng ranh giới rõ ràng, để có trục xoay tạo mí tốt.
- Vùng trước sụn (vùng dưới) có thể được làm vững chắc hơn thông qua (a) cắt bỏ một ít cơ vòng mi dọc theo bờ dưới vết mổ, hoặc (b) khâu buộc qua kết mạc và chôn chỉ ở mặt phẳng dưới da hoặc qua da đường rạch ngoài khi cố định vào cân cơ nâng mi.
- Cong tròn đều (vùng trên) nên được bảo tồn bằng cách giữ lại và bố trí lại túi mỡ sao cho túi mỡ không bị thiếu ở ổ mắt gây nên lõm mí mắt. Không nên loại bỏ quá nhiều da để tránh làm thu hẹp vùng này.
Ba tiêu chí này tạo ra mặt phẳng trước sụn khá chắc chắn (sụn-nếp mí) để vectơ lên trên và da ở trên phủ qua nó, mà không cần lực nhiều hoặc có bất kỳ lực cản trở nào trên nếp mí. Vùng trước vách ngăn tự do phủ qua vùng trước sụn bên dưới, và nếp mí hình thành ở giữa.

Về mặt khái niệm, nếp mí được hình thành là vị trí cao nhất của các sợi cân bán tận của cơ nâng mi chèn vào cơ vòng mi và ra da dọc theo đường mí. Không thể nói rằng không có sợi cân cơ nâng mi nào nằm trên đường mí. Phương pháp cắt hình thang (Chương 11) cho phép đóng da-cân cơ nâng mi-da, với khoảng 1-2 mm, nơi cơ vòng mi chuyển động (dọc theo mặt phẳng xiên của vết mổ trên da) có thể dính cân cơ nâng mi vào bờ trên sụn mi, do đó giải thích trước đây là do quặt ngược phần vỏ của cân cơ nâng mi lên trên để hòa vào vách ngăn, và hoạt động hạn chế khi bị túi mỡ chèn xuống dưới. Phẫu thuật tạo nếp mí chỉ đơn giản là hình thành trực tiếp trên vùng này. Do đó, mặc dù nếp mí được hình thành dọc theo bờ trên sụn mi, bằng cách lấy da để cân cơ nâng mi tiếp xúc với da, nếp mí hình thành có thể nằm ngay trên ngã ba này. Một cách khác để khái niệm hóa điều này là cân cơ nâng mi được gắn vào cả hai cạnh trên và dưới của vết mổ, với nếp mí tạo ra nằm trên nó.

Một số yếu tố ở vùng trên/trước sụn có thể dẫn đến hình thành nếp mí không tốt. Nếu cắt bỏ mỡ ở vùng trước cân cơ nâng mi quá nhiều, thì có thể tiếp xúc trực tiếp giữa cân cơ nâng mi và cơ vòng mi, lúc này vách ngăn đã được mở ra. Khoảng không trước cân cơ nâng mi bị thu hẹp lại, có thể hình thành sẹo và vùng này trở nên sơ. Nếu chúng ta kiểm soát không tốt vùng này, hoặc gây chảy máu, có thể dẫn đến gia tăng sẹo và hậu quả cứng chắc. Nếu cắt bỏ da quá mức có khả năng không thể tạo nếp mí bằng vectơ hướng dưới lên vì những mô sẹo và tổ chức trước sụn quá chắc chắn (da, cơ vòng mi, vách ngăn và có thể các mô mỡ bị xơ hóa). Những yếu tố dường như bình thường này có thể kết hợp để gây cản trở đến sự hình thành nếp mí.
Ở người da trắng sinh ra với một nếp mí tự nhiên, điểm hợp nhất cao hơn của vách ngăn vào cơ nâng mi sẽ giới hạn túi mỡ ở trên. Nếp mí có thể đã hình thành từ đầu bán tận của cân cơ nâng mi hướng tới cơ vòng mi, đính dưới da hoặc sâu hơn từ cơ nâng mi, và giới hạn bên dưới túi mỡ thông qua phần quặt ngược của lớp sau vách ngăn lên đến cơ nâng mi (phần lồi ở mí trên của người châu Á chưa phẫu thuật mí mắt). Điều này, là kết hợp của vùng trước vách ngăn mềm mại và mỏng da với tổ chức chắc chắn trước sụn mi thì dễ dàng để tạo thành một nếp mí.
Ở người châu Á không có nếp mí, có nhiều lý do khó khăn để hình thành nếp mí vì: mô mềm trước sụn mi (da và cơ vòng mi dày) thường mềm hơn và thừa hơn; điểm hòa lẫn của cơ nâng mi và vách ngăn thì thấp hơn; túi mỡ nằm thấp hơn; vùng trước vách ngăn thì đầy hơn và hướng về ổ mắt (người châu Á có đôi mắt ít sấu, do bờ trên ổ mắt ít nhô ra). Những yếu tố này có nhiều khả năng mang lại mắt một mí mà không có nếp mí.
Theo dõi quy trình tạo mí người châu Á, với việc bảo tồn túi mỡ ở giữa, cùng với làm giảm mô mềm mại ở bờ dưới vết mổ, cũng như làm sạch dọc theo bờ trên sụn mi và kiểm soát khi cắt tổ chức trước cân cơ nâng mi, nó sẽ được dễ dàng hơn cho nếp mí lõm vào. Khi cơ nâng mi co tối đa thì sẽ cuộn tổ chức mỡ không dính (túi giữa) phủ bên ngoài qua phía trước da -cơ vòng mi. Về bản chất, sụn mi và da cho phép cuộn được nhiều lớp tổ chức (túi mỡ, vách ngăn, cơ vòng mi, mỡ dưới da và da). Sẽ khó khăn hơn nếu lấy mỡ nhiều ở trước cân cơ nâng mi; tạo sẹo ở vùng này sẽ xảy ra giữa lớp ở trước là da-cơ-vách ngăn và lớp sau là cơ nâng mi- cơ Muller của cơ kết mạc thông qua gây tổn thương mô hoặc chảy máu nhiều và hậu quả là gây dính. Kết quả là tạo ra nhiều tổ chức sẹo chắc dính vào nhau và dính luôn vào sụn mi, rất khó khăn để hình thành nếp mí mí. Chúng ta có thể thấy trên lâm sàng như mảng rắn chắc gồm da/cơ/sụn, kèm theo một nếp mí trông rất tĩnh.
Đôi khi, sưng sau phẫu thuật có thể che lấp một phần nếp mí; và khi hết sưng, sụn mi sẽ lên cao so với mô mềm phía trước và nếp mí sau đó xuất hiện một cách thích hợp.
Các phương pháp khâu buộc tạo nếp mí qua bờ trên sụn mi, tạo ra sự co vững chắc hơn giữa lớp dưới da và cơ nâng mi (thông qua lớp trước là da hoặc lớp sau là kết mạc). Nó cho phép tăng cường lực kéo lên ở sụn mi và dưới các mô mềm trước vách ngăn. Nếu không loại bỏ mô thừa thì nếp mí chỉ tồn tại ngắn (có thể tới 5 năm). Tuy nhiên, với sự lão hóa và tăng dần sự dư thừa mô mềm, nếp mí do đó tạo ra có thể trở nên được che khuất hoặc cạn dần theo thời gian (mờ dần) do lực xé tổ chức của chỉ khâu được sử dụng trong các phương pháp này. (Hiệu ứng của khâu buộc có thể giảm dần theo thời gian, không phải là do hòa tan, nới lỏng, hoặc bẻ gãy các đường khâu, nhưng các sợi chỉ cắt xuyên qua các lớp mô khi nó buộc các mô lại với nhau).
Việc áp dụng các dạng khâu tạo nếp mí phụ thuộc vào vị trí chính xác dọc theo bờ trên sụn mi và các sợi bán tận cơ nâng mi. Số lượng thích hợp các mũi chỉ khâu phụ thuộc vào sự lõm vào của nếp mí. Khi buộc các chỉ khâu này, chúng ta nên tránh căng quá mức hoặc tác dụng quá chặt trên các mô. Khâu chạy chỉ đơn thuần là khép các mép da lại với nhau.
Lựa chọn vật liệu khâu phụ thuộc vào sở thích của bác sĩ phẫu thuật, phản ứng của vết thương, gây khó chịu hoặc bình thường cho bệnh nhân, và lành vết thương như mong muốn để giúp tăng cường tạo nếp mí. Nó xác định số ngày mà các chỉ khâu được cắt bỏ, một lần nữa cân bằng tỷ lệ thành công cho sự hình thành nếp mí so với phản ứng da.
Sau mổ: làm sạch và băng vết mổ, kết hợp dùng thuốc mỡ tra mắt và thuốc kháng sinh, kháng viêm (steroid).
Ở những bệnh nhân có da nhờn, người ta có thể chọn thêm việc sử dụng kháng sinh uống dự phòng và các chế phẩm da chống mụn trứng cá. Ngoài ra còn có một loạt các khuyến nghị chế độ ăn uống có thể được cung cấp cho bệnh nhân châu Á theo phong tục ăn uống của họ, dựa trên hệ thống y học cổ truyền Trung Quốc. Các yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến lành vết thương trước tiên bao gồm các mô của chính bệnh nhân (kiểu gen và kiểu hình), tiếp xúc với môi trường bên ngoài (phơi nắng, vệ sinh tại chỗ), tiền sử bị tổn thương do nắng, các bệnh ngoài da như eczema và vẩy nến, và gần đây bất kỳ phẫu thuật nào được thực hiện ở các lớp sâu và nông của mí mắt.
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: Bác sĩ Hồ Cao Vũ/ Dr Hồ Cao Vũ
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/

