Cắt mí mắt bao nhiêu tiền đảm bảo an toàn phụ thuộc chủ yếu vào bác sĩ thực hiện cắt mí mắt có chuyên môn và kinh nghiệm cùng phương pháp tiểu phẫu đảm bảo vô trùng và an toàn.
Nếp quạt mắt
Theo Johnson dựa vào lâm sàng, nếp quạt mắt có thể được chia thành ít nhất bốn loại: Nếp quạt trên bờ mi, nếp quạt mí mắt, nếp quạt sụn mi và nếp quạt quặt ngược.
Nếp quạt trên bờ mi là rất hiếm. Nó bắt nguồn từ trán và cong xuống phía dưới túi lệ. Nếp quạt mi mắt bắt đầu từ phần trên sụn mi và mở rộng đến bờ dưới ổ mắt.

Nếp quạt sụn mi bắt đầu từ nếp mí và kéo dài nếp da gần góc mắt trong. Johnson gọi dạng mắt này là “mắt Mông Cổ”. Nếp quạt mắt quặt ngược: nếp gấp da bắt đầu từ mí dưới, qua góc mắt trong và kéo dài đến phần trên của mí trên.
Trong số bốn loại nếp quạt được mô tả bởi Johnson thì người châu Á thường có nếp quạt sụn mi. Loại này là một nếp mí mỏng từ góc mắt trong và đi dần ra ngoài, tạo thành nếp gấp nhỏ phía trong, hướng về điểm giữa 1/3 trong và 1/2 trong của mí trên.
Một số trẻ em châu Á có thể xuất hiện nếp quạt mí mắt, trong đó nếp gấp xuyên qua mí dưới và mí trên và phủ qua góc mắt trong.
Đây có thể là do của sự phát triển của cầu mũi. Nếp gấp phía trong thường thấy ở những bệnh nhân đã có nếp mí tự nhiên.
Hầu hết các tác giả trong y văn dường như chỉ tập trung vào mô tả nếp quạt mí mắt và nếp quạt quặc ngược. Sau này được mô tả thêm vào hội chứng hẹp khe mi bẩm sinh. Hầu hết các kỹ thuật chỉnh sửa nếp quạt mắt là một biến thể của tạo hình chữ Z hoặc chữ Y-V. Những kỹ thuật này ít phù hợp với sự chỉnh sửa nếp quạt mắt ở châu Á.
Xu hướng thận trọng khi sửa lại nếp quạt mắt, vì các lý do sau.
Đầu tiên, rất khó để gọi nó là bệnh lý khi nó rất tự nhiên và hiện diện ở một tỷ lệ lớn dân số, ít nhất 2->3 triệu người châu Á trên hành tinh này.
Thứ hai, người châu Á có xu hướng có làn da dày hơn gần mũi, nơi đó dễ xảy ra phản ứng và dễ bị sẹo phì đại hơn.
Thứ ba, nếp mí giảm dần ở mũi bắt đầu thường là một nếp gấp nhẹ ở phía trong nếp quạt sụn mi tạo nên nếp mí tự nhiên thẩm mỹ hay gặp ở những người châu Á có nếp mí.
Thứ tư, nếp quạt này thường phát triển và thoái lui khi người ta đến tuổi trưởng thành. Những nếp gấp mí mắt nhỏ này hầu như là một phiên bản rất nhỏ của một nếp quạt thực sự và không đảm bảo là nó là tình trạng bệnh lí.

Sụn mi trên
Người châu Á có xu hướng nhỏ hơn so với người châu Âu. Cao thường chỉ khoảng 6,5-8,5 mm so với người châu Âu cao trung bình là 10mm, thay đổi từ 9,5 mm.
Mạch máu mí mắt trên
Kawai và cộng sự đã nghiên cứu mí mắt trên trong 7 mẫu xác tươi, có nguồn gốc người châu Á. Tiêm một cách hệ thống hỗn hợp oxit – gelatin vào mẫu và chụp lại các mạch máu có cản quang bằng cách phân vùng giải phẫu. Tác giả tìm thấy bốn cung động mạch chính ở mí mắt trên, ví dụ: cung bờ mi, cung ngoại vi, cung ổ mắt nông và cung ổ mắt sâu. Họ mô tả các nhánh dọc xuất phát từ mỗi cung, với các nhánh thẳng đứng của ổ mắt nông nằm trước phần cơ nâng mi trước vách ngăn, các nhánh thẳng đứng của cung ổ mắt sâu phía sau cơ vòng mi, và các nhánh thắng đứng giữa cung bờ mi và cung ngoại vi nằm cả phía trước và sau của sụn mi trên.
Các nhánh xuống (cung ngoại vi) chạy qua trên sụn mi thông nối với các nhánh lên của cung bờ mi, nơi các nhánh xuống chạy phía sau sụn mi-vách ngăn và cùng với các nhánh lên của cung bờ mi tạo thành một mạng mạch rất phong phú.
Cung ổ mắt nông và cung ổ mắt sâu thông nối với các nhánh của động mạch gò má ổ mắt, động mạch ngang mặt, hoặc nhánh trán của động mạch thái dương nông ngoài và các nhánh của động mạch trên lồi cầu, động mạch mắt, hoặc động mạch mí trong. Trong số này, động mạch trên lồi cầu tiếp tục phân nhánh cho cả cung ổ mắt nông và cung ổ mắt sâu, và cũng chạy dọc theo hai bên cơ vòng mi. Cả hai cung ổ mắt nông và cung ổ mắt sâu đều cho các nhánh xuống thẳng đứng, đi xuống trước và sau cơ vòng mi và thông nối với các nhánh lên của cung bờ mi.

Trước đây, các tác giả cho rằng các mạch dọc chạy xuyên qua có vòng mi (kết nối cung bờ mi và cung ngoại vi) chứ không phải theo chiều dọc chạy dưới cơ vòng mi, kết nối cung ổ mắt sâu với cung bờ mi. Họ không quan sát thấy bất kỳ mạch máu chi phối vào trong cơ vòng mi và suy luận rằng nguồn cung cấp máu phải đến từ mạng mạch phong phú từ các nhánh dọc. Các tác giả trước ngụ ý rằng phương pháp nghiên cứu của họ cung cấp một đánh giá chưa rõ ràng về cấu trúc động mạch của mí mắt trên. Kim và cs đã báo cáo tỷ lệ 25/230 mí mắt nơi động mạch được cho là biến thể của động mạch tuyến lệ, nó được tìm thấy từ nông đến vách ngăn ổ mắt và xen vào mặt ngoài tới cơ nâng mi, cách góc mắt trong 4-5 mm. Sau khi xuyên qua cơ nâng mi thì thấy nó xuất hiện kết nối với động mạch mí ngoài bên phía sau cơ nâng mi. Có 14 trường hợp bị đứt động mạch này và bị chảy máu gây tụ máu ở khoang sau cơ nâng mi. Điều này dẫn đến sưng nề, sụp mi thứ phát và khó khăn trong việc thiết kế phần phía ngoài của nếp mí.
Khi chảy máu thì nên kẹp mạch lại sẽ hiệu quả hơn là đốt điện. Bên cạnh việc cho rằng đây có thể là một biến thể của một nhánh động mạch tuyến lệ, các tác giả cũng đề cập đến khả năng của một động mạch tiếp nối giữa cung ngoại vi và cung bờ mi, hoặc đây có thể là một động mạch tuyến lệ lạc chỗ. Họ đã đề cập rằng việc mổ xẻ xác chết bằng tiêm latex vào động mạch mắt đang được tiến hành.
Trong một nghiên cứu tương tự, Hwang và cs mô tả sự hiện diện không thường xuyên của một động mạch ngoài, được đặt tên là động mạch vách ngăn-cơ nâng mi ngoài (LaSA), như một nhánh của động mạch mí trên ngoài sau khi nó phân chia vào cung ngoại vi, và một phần vào cung bờ mi. Nó đã được phát hiện trong 50 mí mắt (11%) trong 460 cases mổ mí. (Động mạch mí trên ngoài là 1 nhánh của động mạch tuyến lệ, và là nhánh của động mạch mắt). LaSA xuất phát từ phần trên của cung ngoại vi, chạy dọc theo bờ trên sụn mi. Từ cung ngoại vi, nó đâm xuyên qua sự cơ nâng mi và vách ngăn ổ mắt ở phía trên sụn mi và được nhìn thấy chạy trên bề mặt của vách ngăn ổ mắt, khoảng 5mm bên trong góc mắt trong.
Nó thông nối với động mạch trên ổ mắt ở mặt trên ổ mắt. Các tác giả cho rằng cần thận trọng khi mổ vào cạnh bên của vách ngăn, vì dễ chạm vào LaSA có thể gây chảy máu nghiêm trọng, hình thành tụ máu và nhiễm trùng tạm thời, cũng như chảy máu ở phía sau cơ nâng mi. Điều này có thể xảy ra trong quá trình mổ mí cũng như phương pháp khâu buộc, bao gồm việc đặt các mũi khâu lên phần ngoài của mí. Điều này làm cho các bác sĩ phẫu thuật khó khăn khi tạo mí. Các tác giả đề nghị kiểm tra kỹ mặt ngoài của vách ngăn ổ mắt.
Tụ máu cũng có thể xảy ra riêng rẽ khi can thiệp vào các nhánh xuyên của cung bờ mi. Đôi khi một nhánh lớn hơn của cung chạy vuông góc lên trên và xuyên qua cân cơ nâng mi gần chỗ cài vào trên bề mặt trước sụn mi, nơi nó có thể bị tổn thương khi cạnh rạch da bờ dưới trong phẫu thuật. Tuy nhiên, điều này không liên quan với LaSA.
Giải phẫu vùng mặt
Onizuka và Iwanami cho rằng nét đặc trưng người Nhật có khuôn mặt phẳng, hình dạng đầu và mắt không bị sâu như mắt người châu Âu. Họ lưu ý rằng góc mắt ngoài thì cao 10° so với góc mắt trong. Để tạo ra một kết quả hài lòng về mặt thẩm mỹ, họ tạo ra một nếp mí và loại bỏ bất kỳ nếp da thừa nào ở mí trên làm cho nếp mí xuất hiện rộng hơn và mở mắt to hơn. Mặc dù tác giả hiện tại không tin có sự đồng tình là người châu Á có góc mắt ngoài cao hơn mắt trong là 10°, khảo sát của Onizuka và Iwanami có thể đúng

Quan niệm đối xứng mặt
Song, năm 1988, đã viết rằng kể từ thời cổ đại, các nghệ sĩ chân dung Trung Quốc đã tuân theo quy tắc “1/3 ngang, 1/5 dọc” khi mô tả khuôn mặt lý tưởng. Chiều dài một nếp mí lý tưởng nên bằng 1/5 chiều rộng khuôn mặt.
Điều thú vị là, hầu hết bệnh nhân mắt một mí có xu hướng muốn có mắt hai mí nhưng nếp mí nhỏ hơn nếp mí lí tưởng. (Hình 3-24) đôi mắt của họ lại không hòa hợp với phần còn lại của khuôn mặt. Trong sự cố gắng để tạo nếp mí phù hợp khuôn mặt, Song cũng đề cập đến sáu hình dạng khuôn mặt và tám yếu tố ảnh hưởng đến nếp mí. Sáu hình dạng khuôn mặt có thể nhìn thấy trong cộng đồng người châu Á gồm: hình vuông, hình chữ nhật, tròn, hình bầu dục, hình tam giác (có đáy) và hình lục giác. Tám yếu tố ảnh hưởng đến nếp mí thực sự là ba biến thể của chiều cao mí (rộng, trung bình và hẹp) và năm kết hợp của hình dạng mí:
- Nếp mí song song, Song cho là một người với một tính khí ổn định và tính cách nhẹ nhàng, một người vui vẻ và hạnh phúc.
- Nếp mí bên trong hẹp ở trong (<7-8mm) và rộng bên ngoài (7-10 mm). Được cho là một người có khuôn mặt nghiêm khắc, thẳng thắn, nghiêm túc.
- Nếp mí hẹp bên ngoài và rộng bên trong. Mí mắt xuất hiện trùm xuống bên ngoài, tạo ra khuôn mặt buồn và mắt hình tam giác. Không nên áp dụng.
- Mí mắt ở trong và ngoài rộng hơn ở giữa. Mặt không hài hòa và không nên áp dụng.
- Mí mắt ở giữa thì rộng hơn so với bên trong và bên ngoài. Mặt không hài hòa và không nên áp dụng.
Tác giả Song cho là nếp mí rộng (>10 mm) là người có khuôn mặt hình chữ nhật và một người có cá tính mạnh mẽ, chẳng hạn như người biểu diễn và diễn viên. Nếp mí trung bình (7->8 mm) hay được chọn nhất. Nếp mí hẹp (4-5 mm) được khuyến khích cho những người muốn có nếp mí nhưng lại không muốn cho người khác biết về mình đã phẫu thuật mí. Nếp mí giảm dần ở mũi và nếp mí song song dựa trên chiều cao sụn mi cho khuôn mặt hài hòa thẩm mỹ.
Năm 1987, kết luận tương tự như những gì tác gia hiện nay đã công bố, tức là một nếp mí giảm dần ở mũi và nếp mí song song dựa trên chiều cao sụn mi sẽ tạo nên khuôn mặt thẩm mỹ nhất.
Nhìn bên ngoài thì mí mắt người châu Á và người châu Âu có khác biệt rất rõ. Ngoài sự khác biệt rõ ràng về kích thước của mí mắt, hình dáng nếp mí và chiều cao nếp mí, cũng có sự khác biệt về giải phẫu của sụn mi và túi mỡ, sự khác biệt về cấu trúc của góc mắt trong sự khác biệt về khuôn mặt và còn có sự khác biệt trong khái niệm về cái đẹp. Tất cả những yếu tố trên nên tính toán trước khi phẫu thuật tạo hình mí ở người châu Á.
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: Bác sĩ Hồ Cao Vũ/ Dr Hồ Cao Vũ
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/

