Phương pháp khâu vùi tạo mí (còn được gọi trong ngôn ngữ Châu Á như là các phương pháp “không xâm lấn” hoặc “không cắt”). Lịch sử và những thay đổi của thuật này sẽ đề cập.
Sự phát triển kỹ thuật tạo mí đôi thẩm mỹ trong y văn Nhật
Cắt mí là gì? Xuất hiện từ rất sớm y học Nhật Bản là phương pháp khâu vùi. Năm 1896, Mikamo là người mô tả đầu tiên về phương pháp khâu vùi. Mikamo thực hiện quy trình trên một phụ nữ Nhật không có nếp mí. Các nếp mí được thiết kế là 6 – 8mm từ bờ mi. Dùng chỉ Silk 4. 0 khâu 3 mũi trên nếp mí; khâu từ da mi xuyên qua toàn bộ lớp da đến kết mạc mi rồi quay ngược trở lại ra da. Độ sâu của nếp mí đã được điều chỉnh theo từng ngày cắt chỉ, khoảng từ 2 đến 6 ngày.
Đầu năm 1926, Uchida đã mô tả phương pháp khâu của mình cho kỹ thuật tạo mắt hai mí. Ông đã thực hiện các thủ tục trên 1523 mí mắt ở 396 bệnh nhân nam và 444 nữ. Uchida mô tả hình dạng nếp mí như hình dạng quạt có nghĩa là nếp mí hơi tròn. Các nếp mí được thiết kế để được 7-8 mm từ bờ mi. Khâu 3 mũi chỉ tiêu Cargut trên mỗi mí mắt, chiều rộng mỗi mũi khâu khoảng 2 mm. Cắt chỉ sau 4 ngày.
The first mention of an external incision method dates to Năm 1929, khi Maruo đề cập đến đầu tiên của một phương pháp rạch bên ngoài, báo cáo về kỹ thuật khâu và kỹ thuật rạch. Maruo yêu cầu rạch da qua mí mắt, cách bờ mi 7 mm. Kỹ thuật đóng da, từ mép mổ khâu phủ da qua bờ trên sụn mi đến kết mạc mi và ra da lại mép da còn lại. Dùng chỉ cargut 5.0 khâu 4 mũi dọc theo bờ trên sụn mi gắn bờ da vào mặt trên của sụn. Khoảng cách giữa mỗi mũi khâu là 5-6 mm. Maruo cũng thảo luận có nên có dưới da 5 mm cao hơn và thấp hơn so với đường rạch.
Năm 1933, ưu tiên cho một nếp mí cao hơn trở nên rõ ràng khi Hata báo cáo phương pháp khâu vùi. Đường mí cách bờ mi 10 mm. Hata sử dụng ba 3 mũi khâu bằng silk 5.0 được trang bị hai mặt, truyền chúng từ sụn mi đến da, cố định chúng lên bề mặt da bằng nút nhỏ. Mỗi mũi khâu cần khoảng cách 1 mm để gắn nút. Cắt chỉ sau 8-10 ngày.
Trong một báo cáo toàn văn vào năm 1938, Hayashi mô tả hai phương pháp tạo nếp mí. Kỹ thuật khâu vùi của ông được mô phỏng sau phương pháp của Mikamo nhưng nó mới ở chỗ là nó được thiết kế cho một nếp mí giảm dần ở mũi. Khâu 3 mũi trên mỗi mí mắt, mũi khâu giữa và ngoài thì khâu cao hơn đường mí hay sụn mi mũi khâu trong thì khâu bên dưới đường mí hoặc sụn mi. Phương pháp rạch da của Hayashi là một cuộc cách mạng, trong đó ông ủng hộ việc cắt bỏ 1 phần cơ vòng mi trước sụn ở vị trí rạch da. Ông ủng hộ việc khâu mũi rời da-sụn mi-da, và dùng chỉ silk 4. 0 để khâu da xen giữa các mũi khâu trên. Nếp mí được bố trí cách bờ mi: ở trong 5mm, giữa 6mm, và ngoài 7mm, cho nếp mí có giảm dần ở mũi. Cắt chỉ sau 4 ngày.
Năm 1947, Inoue đã đề xuất cắt bỏ các tổ chức liên kết ở dưới da nằm giữa đường mổ và bờ mi. Khâu chỉ silk 5.0 để đóng vết mổ là da-sụn mi-da, cắt chỉ sau 2-3 ngày.
Năm 1950, Mitsui tiếp tục cải tiến quy trình phẫu thuật tạo mí đôi khi ông mô tả việc loại bỏ mô liên kết trước sụn, bao gồm cả cơ vòng mi và mỡ trước sụn. Đóng vết mổ thực hiện theo hai bước: Đầu tiên, dùng chỉ Nylon khâu 5 mũi rời nhau từ bờ dưới của mép da đến bờ trước mặt trên của sụn mi. Thứ hai, dùng chỉ silk 5.0 khâu da-da xen kẽ. Cắt chỉ: nylon sau 2-3 ngày, chỉ silk sau 7-8 ngày.
Phẫu thuật cắt mí mắt bằng dao mổ điện
Ohashi đã mô tả phẫu thuật tạo mí đôi bằng dao mổ điện. Dùng đầu đốt để đốt vuông góc với da, dọc theo đường mí cho tới khi thấy da hơi phồng lên; hai đường vừa mổ-vừa cầm máu dọc theo nếp mí. Năm 1951, Hiroseo và Ikegami đã thảo luận vắn tắt về phương pháp rạch da tạo mí nhưng không đưa ra bất kỳ thông tin mới nào.
Các quy trình nêu trên chỉ được mô tả trong y văn học Nhật Bản và không tìm thấy các tác giả phương Tây. Kết quả là, việc xuất bản các bài viết về quy trình này trong các tạp chí y học phương Tây trong những năm 1950 làm cho các kỹ thuật có vẻ mới về khái niệm (phương Tây). Giữa năm 1896 và 1950, 11 bài báo liên quan đến phương pháp khâu buộc và 8 bài viết về phương pháp rạch bên ngoài để tạo mí đôi cũng đã được công bố trong tài liệu y học Nhật Bản. Về sau, phần lớn y văn phương Tây mô tả các kỹ thuật khá giống với các tài liệu được mô tả trong các y văn ban đầu của Nhật.

Năm 1954, Sayoc viết bài đầu tiên được xuất bản trong các tài liệu tiếng Anh về kỹ thuật rạch bên ngoài. năm 1955 Millard đã mô tả kinh nghiệm của ông ở Quân đội Hàn Quốc. Vào thời điểm đó, ông cho rằng người Hàn Quốc mong muốn mắt tròn như người phương Tây hơn là “mắt xếch”. Millard tin rằng người Hàn không có nếp mí là do nhiều da và mỡ trên ổ mắt. Millard đã mô tả là phải cắt bỏ một dải da rộng 3 mm, cắt bỏ cả bên dưới và trên của bờ da, cắt tỉa các cơ vòng mi dọc theo mép mô dưới và cắt bỏ hoàn toàn các túi mỡ trên ổ mắt (trước cơ – nâng mi). Mặc dù ông đã dùng chỉ Silk để khâu tạo mí tăng cường từ da-sụn-da, nhưng ông tin rằng chỉ khâu này không phải lúc nào cũng cần thiết, Kỹ thuật tạo hình chữ Z để loại bỏ một nếp quạt mắt. Bài báo của Millard là một minh họa liên quan đến các bác sĩ phẫu thuật phương Tây và bệnh nhân châu Á trong những năm 1950.
Năm 1961, Pang mô tả khâu qua toàn bộ mí mắt “trans-lid” để tạo nếp mí: dùng chỉ silk 4.0 khâu 3 mũi từ da đến kết mạc mi rồi ra da, cắt chỉ sau 10 ngày.
Fernandez Uchida và Khoo Boo-Chai cũng viết bài về kỹ thuật rạch bên ngoài. Năm 1962, Uchida mô tả sự hiện diện của các phần mỡ khác nhau và những thay đổi của nó trên của người châu Á. Ông mô tả có liên quan đến việc cắt bỏ chọn lọc các mô dưới da trước sụn, bao gồm: da, cơ vòng mi và mỡ, mỡ trước cơ nâng mi và thậm chí một số mỡ trước vách ngăn.
Năm 1964, Khoo Boo-Chai ủng hộ kỹ thuật khâu xuyên kết mạc mi đơn giản hơn cho những người trẻ tuổi với lượng mỡ và da dư ít. Năm 1972 Mutou và Mutou cũng mô tả kỹ thuật khâu vùi. Trong bài báo này, Mutou và Mutou đã làm sáng tỏ quan niệm tạo mí đôi và phương pháp ít xâm lấn cho bệnh nhân có mí mắt mỏng và mỡ dưới da ít. Họ đã mổ cho 4805 ca từ 1965 và 1969, trong đó 90% là phụ nữ, 25% ưa thích nếp mí song song, và 75% thích nếp mí dạng cánh quạt (tương đương với nếp mí giảm dần ở mũi nhưng dần dần mở rộng về phía ngoài của khe mi). Để làm cho các nếp mí giảm dần ở mũi thì các tác giả đã khâu buột da góc mắt trong vào dây chằng. Họ giải thích rằng: có ba sự lựa chọn cho chiều cao nếp mí: thấp nhất 4-5 mm, được gọi là “mí đôi sâu” (sâu ở đây cảm giác giải phẫu sâu về bên trong), bình thường 6-8 mm, và cao nhất 9-12 mm cho những người có đôi mắt to.

Kỹ thuật thực tế là khâu vòng 2 mũi khâu bằng chỉ 6-0 từ kết mạc: mỗi mũi khâu có chiều ngang 5 mm, cao hơn 3mm từ bờ trên sụn mi (xem Faden trong Chương 21). Mỗi đầu lúc đó sẽ xuyên từ kết mạc mi ra da (ngang 1 mm). Một đầu xuyên ra da và tiếp tục cho xuyên dưới da để buộc với đầu còn trên da. Những vị trí mũi khâu của các tác giả trước đây chỉ khâu 3 mũi: 1/3 trong và 1/3 giữa và 1/3 ngoài của mí trên. Chỉ khâu được vùi dưới da một cách cẩn thận. Họ bắt đầu nhận thấy là có sụp mí nhẹ ở hầu hết các trường hợp. Mutou và Mutou ban đầu được báo cáo vào năm 1972, tỷ lệ mất nếp mí là 1,3% ở những bệnh nhân đã trải qua khâu vòng buộc trong da. Sau đó, chỉ có hai mũi khâu được sử dụng nhưng do tình trạng sụp mi sau phẫu thuật (yếu và rơi mí mắt).
Năm 1973 Mutou đã thay đổi kỹ thuật này bằng cách sử dụng một mũi khâu duy nhất. Theo dõi sụp mi sau mổ phản ảnh hiệu ứng Faden (giảm chức năng có của cơ nâng mi), điều này là do mũi khâu đặt cao, cũng như sử dụng các chỉ khâu không tiêu để gắn phần trước và phần sau của sụn mi.
Phương pháp khâu vùi có ưu điểm:
Tương đối không xâm lấn và thường ít sưng sau phẫu thuật (ít thời gian nghỉ dưỡng). Nhược điểm chính là nếp mí có thể mất đi theo thời gian. Tôi sẽ thảo luận sâu thêm về tác dụng của khâu vùi.
Năm 1979, Bác sĩ Yukio Shirakabe đã cải tiến phương pháp khâu ép có nút chặn của Hata (1933); phương pháp của ông bao gồm: rạch da bên ngoài tiếp theo bóc tách da ra khỏi vùng trước sụn mi, đóng da và cố định nếp mí bằng dụng sáu mũi khâu nylon 4-0, với mỗi đầu chỉ của mỗi cặp thì gắn một nốt (12 nốt).
Trong bài báo của họ năm 2000, Homma và các đồng nghiệp báo cáo rằng Mutou có tỷ lệ nếp mí thoái triển là 3, 4% trong 1457 bệnh nhân trong 7 năm từ 1986. Họ chỉ ra rằng kỹ thuật này có thể áp dụng cho những bệnh nhân có tổ chức mỡ ít hoặc chỉ nề nhẹ. Họ trích dẫn những thuận lợi gồm: ít sưng sau phẫu thuật, không cần cắt chỉ và sẹo không rõ. Quy trình gồm: lật sụn mi trên ra, dùng chỉ nylon 7.0 xuyên qua kết mạc tại điểm 3mm trên bờ trên sụn mi. Nó đi qua kết mạc khoảng 5 mm. Đầu thứ nhất xuyên qua kết mạc 1mm liền kề và xuyên ra trước da mi. Đầu tiếp theo xuyên từ kết mạc ra da. Đầu thứ nhất sau đó xuyên dưới da tới gặp vị trí đầu thứ hai trên da, hai đầu buộc lại tạo nút chặn ở trên da.
Các tác giả khác, bao gồm Tsurukiri đã báo cáo tỷ lệ mất nếp mí là 10%. Satou và Ichida tỷ lệ thoái lui là 16,8%. Homma và các đồng nghiệp cho rằng tỷ lệ mất nếp mí cao hơn ở những người có da mí dày hoặc có mỡ dưới da nhiều. Họ thừa nhận khó khăn trong việc đánh giá tỷ lệ mất nếp mí vì bệnh nhân thường không quay trở lại để theo dõi, và thường họ tìm bác sĩ khác để sửa lại khi quy trình mổ đầu tiên không khả quan.
Một yếu tố quan trọng không được thảo luận là hầu bệnh nhân trải qua các phương pháp khâu nhận ra rằng khi nếp mí mất đi thì tốt nhất là áp dụng phương pháp rạch da, và do đó có thể tiến hành trực tiếp để được tư vấn với những người đang học mổ.
Nói chung, phương pháp khâu vùi luôn được coi là một kỹ thuật tương đối không xâm lấn thường dẫn đến ít sưng sau phẫu thuật. Bất lợi chính của nó là nếp mi thể mất đi theo thời gian. Đó một bất lợi đáng kể khi nó xảy ra, làm mất thời gian, tiền bạc và công sức (ít được thực hiện và dự kiến ít giữ được lâu. Xem Chương 21 và hiệu quả khâu tạo mí trên sụn mi, hiệu ứng “Faden” gây cản trở cơ nâng mi bị khâu cố định và hiệu quả khi dùng chỉ không tiêu để khâu.)
Có những bài báo khác được mô tả việc sử dụng phương pháp đường rạch nhỏ với việc loại bỏ các mô dọc theo bờ trên sụn mi, cùng với khâu chỉ vùi. Ví dụ, tờ báo của Lee, Baek và Chung mô tả việc sử dụng nylon 7-0 thông qua vết rạch da nhỏ, áp dụng nó như một hình thoi liên tục, tạo thành ba vòng lục giác trải rộng theo chiều rộng của nếp mí; điều này được kết hợp với việc loại bỏ các mô (cơ, mỡ và vách ngăn). Họ áp dụng nó trong 327 bệnh nhân với một theo dõi trung bình chỉ 13 tháng. Từ năm 1970 đến 1990, đã có ít nhất hàng chục bài báo mô tả các phương pháp rạch bên ngoài. Trong số đó, bài báo của Zubiri năm 1981 mô tả phép đo kích thước chiều dọc của phần trên của sụn mi như một cách để hướng dẫn vị trí của vết rạch mí. Nó xấp xỉ một vị trí nếp mí thực sự và cũng là phương pháp tối ưa thích. Năm 1995, sách phẫu thuật tạo hình mí đôi ở người châu Á: Atlas phẫu thuật đã xuất bản, và đã có ít nhất hơn 40 đề tài gồm tạo hình góc mắt trong, cũng như mô tả đường rạch nhỏ, hay các dạng rạch “một phần” hay các dạng cố định nếp mí gồm cố định “da-vách ngăn” và cố định “cơ vòng mi- cơ nâng mi”.
Tham khảo sách y học
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: Bác sĩ Hồ Cao Vũ/ Dr Hồ Cao Vũ
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/
Bác sĩ Hồ Cao Vũ đã có hơn 20 năm chuyên bệnh lí lành tính và ung thư vú tại bệnh viện Chợ Rẫy, hơn 10 năm trong lĩnh vực thẩm mỹ và tạo hình sử dụng bằng dao Harmonic, dao Ligasure. Bs Vũ còn chuyên sửa các ca ngực hư, ngực lệch, ngực lộ túi, vỡ túi, bao xơ cấp độ 1 đến 4, tháo túi ngực… đã trải qua khóa đào tạo trực tiếp tại MD Aderson Cancer Center Hospital, Houston, Texas, USA tại Khoa phẫu thuật tạo hình Giáo sư David Chang là người hướng dẫn trực tiếp. Theo thông tin từ chính hãng Johnson & Johnson: “ThS. Bs. Hồ Cao Vũ là người đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam hiện nay sử dụng Harmonic Scalpel trong phẫu thuật nâng ngực.

