Tạo hình thành bụng phù hợp với bụng da dư mỡ thừa nhiều, phương pháp phẫu thuật giúp loại bỏ da dư mỡ thừa, siết cân cơ, tạo vòng 2 thẩm mỹ. Tuy nhiên bác sĩ phẫu thuật tạo hình phải có chuyên môn về bệnh lý và thẩm mỹ đảm bảo an toàn trong phẫu thuật và những biến chứng nguy hiểm. Cùng xem những động mạch thành bụng bao gồm những gì.
Việc khảo sát đường kính ĐMTVN rất quan trọng vì 3 lý do sau:
(1) có đủ lớn hay không để nối vạt trong khâu nối mạch máu cũng như cấp máu cho vạt để sống, (2) đường kính này sẽ là dấu chỉ điểm hay nói cách khác mối liên quan về đường kính giữa ĐMTVN, ĐMTVD, TMTVN, TMTVD khi đường kính của một mạch này nhỏ thì đường kính của những mạch còn lại sẽ lớn để bù trừ trong việc cấp máu cho vạt, (3) có đủ lớn hay không để có thể hiện diện trên hình ảnh CLVT 64 dãy đa lát cắt. Do đó một số tác giả trên thế giới đã nghiên cứu về đường kính mạch để từ đó ứng dụng trên lâm sàng như: Quilichini J. và cộng sự (2010) nhận thấy đường kính của nó không cho phép thực hiện các phẫu thuật trên xác và cũng đồng ý rằng đường kính từ 1 dến 1,5mm là tối thiểu trong phẫu thuật vùng bụng làm vạt; theo Man L.X. và cộng sự (2009), nếu SIEA to hơn 1,5mm đường kính, và có một tĩnh mạch đi kèm, sẽ thực hiện cuộc mổ vạt SIEA. Theo Roehl K.R. (2010), khi động mạch thượng vị nông hiện diện và có đường kính phù hợp, thường >1,5mm, sẽ được chọn làm cuống vạt vì nó không gây ảnh hưởng quá nhiều đến vùng bụng hiến vạt da.
Theo Rosson G.D., việc khảo sát đường kính này cũng ứng dụng trong quá trình chuyển đổi từ vạt da cơ thẳng bụng sang vạt động mạch thượng vị nông hay vạt động mạch thượng vị dưới trong phẫu thuật tạo hình các ngực biến dạng do ung thư là một diễn tiến tự nhiên, nhằm cố gắng giảm thiểu tình trạng tổn thương của mô vùng thành bụng hiến vạt da. Trong quá trình khám tiền phẫu tạo hình thành bụng nếu thấy động mạch thượng vị nông có đường kính lớn tương đồng với các nhánh xuyên của động mạch thượng vị dưới vùng thành bụng, phẫu thuật viên có thể cân nhắc sử dụng động mạch thượng vị nông.

Theo Masia J., luôn bắt đầu phẫu thuật bằng việc tìm kiếm hệ mạch thượng vị nông vì hai lý do: (1) Nếu đường kính của động mạch thượng vị nông đủ lớn (qua hình CLVT 64 dãy), tác giả quyết định thường quy thực hiện vạt SIEA, (2) Nếu đường kính quá nhỏ, tác giả cũng cắt hệ thượng vị nông để có hệ dẫn lưu tĩnh mạch thay thế nhằm giải quyết biến chứng. Sau đó, nếu quyết định thực hiện vạt DIEA, tác giả tìm nhánh xuyên tốt nhất định vị được trên CLVT 64 dãy. Ngoài ra, theo Ayhans S. do sự thông nối rất ít giữa mạch thượng vị nông hai bên, không nên lấy vạt ĐMTVN rộng quá đường giữa và việc tìm thấy mạch máu TVN có kích thước lớn ở mỗi bên thành bụng là cần thiết cho việc sử dụng vạt ĐMTVN hai bên.
Sự liên quan giữa hai vùng cấp máu của vạt DIEP và vạt SIEA đã được chỉ rõ trong nghiên cứu. Vấn đề là khi nào chúng ta cần sử dụng thêm SIEA trong khi nâng vạt DIEP. Sự cấp máu của nhánh xuyên dãy ngoài cho vạt DIEP được các tác giả nước ngoài đề cập tới là thường khó vượt qua đường trắng giữa do vật nó chỉ đủ cấp máu cho vùng II và không cấp máu được cho vùng IV. Vậy khi chỉ phẫu tích được nhánh xuyên ngoài mà vạt DIEP cần lấy cả vùng IV thì việc lấy thêm SIEA đối bên là cần thiết sẽ tránh hoại tử vạt.
Vấn đề hồi lưu tĩnh mạch là nguyên nhân chính của việc thất bại trong phẫu thuật vạt DIEP. Để tăng tỷ lệ thành công của vạt thì cần đảm bảo sự thông suốt cũng như khả năng chuyển tải của hệ thống tĩnh mạch vạt. Trong vạt DIEP, ngoài tĩnh mạch thượng vị dưới, tĩnh mạch thượng vị nông cũng có thể được sử dụng trong các trường hợp cần thiết và đây được xem là phao cứu sinh cho vạt DIEP. Vì vậy khi bóc vạt cần bảo tồn tĩnh mạch thượng vị nông đủ dài để có thể khâu nối. Nếu tĩnh mạch cuống vạt hoặc tĩnh mạch tiếp nhận có kích thước nhỏ, hoặc vạt sử dụng thể tích lớn nhưng dùng 1 cuống mạch, khó đảm bảo hồi lưu tĩnh mạch tốt thì có thể nối 2 tĩnh mạch từ đầu. Trong các trường hợp khác, sau khi nối xong cuống vạt, kiểm tra nếu thấy hồi lưu tĩnh mạch kém thì cần nối tăng cường thêm tĩnh mạch. Tĩnh mạch vạt sử dụng để tăng cường thường là tĩnh mạch thượng vị nông, hoặc tĩnh mạch thượng vị dưới còn lại và một số trường hợp là tĩnh mạch thượng vị dưới đối bên. Tĩnh mạch tiếp nhận có thể là tĩnh mạch ngực ngoài, tĩnh mạch ngực lưng, tĩnh mạch đầu.
Qua nghiên cứu bằng cách đo nồng độ hemoglobin khi kẹp tĩnh mạch thượng vị nông đối bên. Rothenberger và cộng sự nhận thấy rằng nồng độ hemoglobin tăng vùng II và IV theo phân vùng Hartrampf khi mở kẹp tĩnh mạch thượng vị nông. Từ đó Rothenberger và cộng sự cho rằng nối tăng cường tĩnh mạch thượng vị nông đối bên sẽ giúp cải thiện hồi lưu tĩnh mạch của vạt, đặc biệt khi sử dụng vạt rộng sang phần đối bên nhiều. Điều này giúp phẫu thuật viên trong ca mổ tạo hình thành bụng giảm được tối đa biến chứng liên quan tĩnh mạch và cải thiện tỷ lệ sống của vạt DIEP.
Tác giả Enajat và cộng sự thực hiện 564 vạt DIEP để tái tạo vú, trong đó có 273 trường hợp nối 1 tĩnh mạch và 291 trường hợp nối 2 tĩnh mạch. Trong trường hợp nối 2 tĩnh mạch, tĩnh mạch thượng vị dưới còn lại được sử dụng trong 7,9% trường hợp, tĩnh mạch thượng vị nông được sử dụng trong 92,1% trường hợp. Kết quả ghi nhận tỷ lệ sung huyết tĩnh mạch giảm ở nhóm nối 2 tĩnh mạch so với nhóm nối 1 tĩnh mạch.
Thoma A. và cộng sự (2008), nhận thấy chiều dài và đường kính động mạch thượng vị nông đều ngắn hơn và nhỏ hơn so với vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới.
Chúng tôi cũng thấy đường kính ĐMTVN ở 2 bên phải trái khác nhau có ý nghĩa thống kê và nhỏ hơn đường kính ĐMTVD ở cả 2 bên. Điều đó cho thấy đường kính ĐM thượng vị nông là dấu chỉ điểm quan trọng trong khi lấy vạt theo bậc thang tạo hình.
Chúng tôi đo chiều dài ĐMTVN theo kiểu uốn lượng theo đường đi của mạch sau đó kéo dài đoạn chỉ đo ra để đo chiều dài nên chúng tôi nhận thấy chiều dài ĐMTVN lên đến 14cm, dài hơn nhiều so với các tác giả nước ngoài. Đây là chiều dài mạch thực tế trong khi hầu hết các tác giả khác đo khoảng cách điểm đầu và cuối của cuống mạch vạt.
Hướng đi và liên quan động mạch thượng vị nông với các mốc giải phẫu bề mặt và hình chiếu ra đa.
Chúng tôi nhận thấy hướng đi trục mạch ĐMTVN chạy về gai chậu trước trên chiếm trên 65% và góc ĐMTVN hợp với dây chằng bẹn khoảng 50 mở ra ngoài. Đây là điểm khác biệt so với y văn kinh điển trước đây mô tả ĐM chạy hướng về rốn. Khi định vị trí ĐM này thì nằm trong dãy ngoài khoảng 4 còn dãy giữa và trong là phạm vi cấp máu mạch xuyên ĐMTVD. Và hướng đi này cùng hướng với ĐMMCN nên việc phối hợp với vạt bẹn khi cần thiết để mở rộng cũng là một ưu điểm.
Bên cạnh đó khảo sát đường đi ĐMTVN qua định vị trí tương đối ĐM theo 3 dãy tại ngang mức dây chằng bẹn, gai chậu trước trên và ngang rốn, chúng tôi nhận thấy hướng đi ĐM chạy dần từ dưới lên ở mức dây chằng bẹn hầu như nằm dãy giữa, khi đi lên trên đến gai chậu trước trên chạy ra ngoài phù hợp với nghiên cứu của tác giả Fukaya E. Trong các trường hợp ĐM chạy lên phía trên rốn thì có một tỷ lệ nhất định vào lại dãy giữa, nhưng đa số vẫn dãy ngoài từ 70-80%, trái ngược với nghiên cứu của Fukaya E. chạy về dãy giữa 60% và rốn lên đến 40% mà không thấy hiện diện dãy ngoài. Sự khác biệt này có thể do về mặt chủng tộc hay thật sự cần phải nghiên cứu thêm.

