SAL và kỹ thuật cắt bỏ hỗ trợ của siêu âm (UAL)
Ban đầu được đề xuất bởi Grazer vào năm 1984 và Teimourian et al vào năm 1985, phẫu thuật cắt bỏ hỗ trợ hút là phương pháp được sử dụng tới giờ được sử dụng kết hợp với phẫu thuật cắt bỏ hoặc 1 mình nó để điều chỉnh phì đại tuyến vú nam và nữ. Teimourian et al khuyến nghị SAL như một công cụ bổ trợ để phẫu thuật thu gọn ngực. Các tác giả đặc biệt ủng hộ việc hút phía bên đường nách trước để giảm sự đầy ở khu vực này mà không cần kéo dài vết mổ. Lejour và Abboud đã báo cáo việc sử dụng hút mỡ để hạn chế sự trở ngại vấn đề sẹo của những kỹ thuật cắt bỏ.

Chỉ hút mỡ (phẫu thuật ngực có hút)
Matarasso chỉ ra rằng phẫu thuật thu gọn ngực sử dụng hút mỡ có những ưu điểm sau so với các kỹ thuật truyền thống:
- Tránh bóc tách bàn cuống và vạt
- Để lại sẹo nhỏ hơn
- Hạn chế ảnh hưởng đến cấu trúc hỗ trợ da và mô tuyến
- Không gây trở ngại tới hệ thống mạch máu cung cấp NAC
- Giữ được cảm giác hiện tại
- Dễ điều chỉnh những thứ nhỏ để đạt được cân đối 2 bên
- Bảo tồn hệ thống dẫn sữa
Các báo cáo ban đầu của Matarasso và Courtiss cho thấy các ứng viên lý tưởng cho phẫu thuật hút mỡ ngực là những người có NAC vị trí bình thường mà không rộng đáng kể, chất lượng da tốt và chủ yếu là ngực béo. Với kinh nghiệm liên tục, các tác giả đã mở rộng chỉ định cho SAL liên quan. Courtiss thấy rằng bằng cách sử dụng cannuulae đặc biệt, nhu mô vú có thể được loại bỏ. Thêm nữa, ông lưu ý rằng khi khối lượng của ngực được hỗ trợ thủ công, NAC tăng và đường kính quầng vú giảm sau khi làm SAL và không cần cắt bỏ trực tiếp, như anh ta đã nghĩ trước đây.

Matarasso đã mở rộng các tiêu chí ban đầu để bao gồm các bệnh nhân có ngực hơi xệ và giả xệ. Ông đã trình bày 1 theo dõi 10 năm về SAL cho chứng phì đại vú do mô mỡ. Tuy nhiên, ông lưu ý rằng thường rất khó để xác định nguyên nhân gây ra phì đại vú là do mô mỡ hay nhu mô vú dựa trên thăm khám trước mổ. Kinh nghiệm sau đó đã cho thấy cần dung dịch làm ướt nhiều hơn với mô tả trước đó. Matarasso đã báo cáo một sự ưa thích không chính xác cho bệnh nhân sau mãn kinh, nhưng bệnh nhân tiền mãn kinh được điều chỉnh theo kích thước mong muốn của họ. Biến chứng là khá nhỏ và bao gồm một tình trạng núm vú đảo ngược hiếm gặp.
Kỹ thuật giảm mỡ đã áp dụng rộng rãi hơn bởi Gray, người đã báo cáo kinh nghiệm 3 năm của mình với 204 bệnh nhân. Thể tích tối đa được loại bỏ là 2250ml. Các biến chứng được báo cáo là 1 trường hợp tiết dịch và một trường hợp máu tụ. Sự co kéo da đáng kể và kết quả khả quan ở độ sa trễ độ I, II và III đã đạt được. Sự cải thiện trung bình ở vị trí núm vú là 6cm. Gray kết luận bằng SAL là một phương pháp điều trị hiệu quả mà loại bỏ những triệu chứng của bệnh nhân khá hiệu quả như là phẫu thuật cải tiến với hạn chế nguy cơ biến chứng và nhanh trở lại hoạt động thường ngày. Bệnh nhân không nên mong đợi để đi từ sa trễ nhóm II hoặc nhóm III thành ngực không sa trễ; tuy nhiên, để chắc chắn bệnh nhân kỹ thuật này đã được chứng minh là một sự lựa chọn hữu ích. Mặc dù các phép đo tĩnh mạch thường thay đổi, đánh giá quan trọng của hình ảnh bệnh nhân cho thấy không có sự thay đổi về mức độ ptosis từ tình trạng trước phẫu thuật trong những bệnh nhân này.
Mặc dù sự phổ biến ngày càng tăng của các kỹ thuật UAL trong đường nét cơ thể, chúng tôi không được áp dụng rộng rãi cho phẫu thuật thu nhỏ ngực. Không có bằng chứng cho thấy năng lượng siêu âm là một chất gây ung thư, nhưng những lo ngại về theo dõi và sàng lọc sau phẫu thuật về hóa ác tính có thể làm chậm ứng dụng lâm sàng. Các phẫu thuật viên chọn nó nên được tư vấn tốt để có được sự đồng ý đầy đủ từ bệnh nhân của họ, trong đó tất cả các yếu tố chưa biết và rủi ro tiềm ẩn của kỹ thuật UAL đều được nêu cho tiết.
Di Giuseppe đã báo cáo kinh nghiệm của mình với phẫu thuật hút thu gọn ngực UAL ở 120 bệnh nhân. Ông lập luận rằng năng lượng siêu âm cho phép loại bỏ có chọn lọc các tế bào mỡ trong khi bảo tồn các mạch máu, dây thần kinh cục bộ và mô liên liên kết hỗ trợ. Ngoài ra, sự co kéo của da ngực và mô tuyến thì góp phần vô làm giảm sự thông dụng của chữa trị siêu âm ở tầng nông của lớp mô dưới da, cái mà góp phần điều chỉnh sa trễ.
Vấn đề quan tâm hàng đầu về việc loại bỏ chất béo tổn thương là liệu nó có khả năng gây ra sự vi canxi hóa. Không có vôi hóa nào được chỉ ra bằng nhũ ảnh 2 năm sau phẫu thuật hút thu gọn ngực và 4 năm sau phẫu thuật ngực UAL.
Một cảnh báo khác sự khó khăn để đạt được sự chẩn đoán bệnh sử chính xác của mẫu SL. Bởi vì các mô bị hút đã được rút ra dưới áp lực và được ngâm trong quá trình phẫu thuật, nên nhà nghiên cứu bệnh học có thể khó kiểm tra bằng mắt kính hiển vi. Trong một cuộc thảo luận được mời, một nhà nghiên cứu bệnh học lập luận là quá trình này không có khả năng làm biến dạng mô để làm mô bệnh học nhưng việc xác định vị trí của tổn thương vẫn còn nhiều vấn đề. Điều này nên được thảo luận với bệnh nhân trước phẫu thuật và nếu có bất kỳ vùng nghi ngờ nào sự xuất hiện của khối U ngực hoặc nếu có tiền sử gia đình cao về ung thư vú, phẫu thuật thu gọn thì khá là phù hợp. Các mẫu bệnh lý riêng biệt phải được gửi từ mỗi bên ngực để có thể được định vị ở bên phải hoặc bên trái.

Ngược lại, Lejour nghi ngờ liệu sa trễ có thể được điều chỉnh chính xác chỉ bằng hút hay không và cho rằng hút mỡ chỉ như một quy trình cách ly nên thực hiện ở bệnh nhân lớn tuổi với ngực lớn mà muốn phẫu thuật nhanh và an toàn mà không có nhiều băn khoăn về thẩm mỹ. Theo Lejour, lợi ích của việc hút mỡ là khả năng của nó để nâng cao chất lượng của kết quả bằng cách loại bỏ giới hạn của sẹo.
SAL có thể đóng một vai trò trong phẫu thuật thu gọn ngực ở một số bệnh nhân. Như mọi khi, lựa chọn bệnh nhân có thể là yếu tố quan trọng nhất trong thành công cuối cùng của kỹ thuật.
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ:
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/

