Mục đích của phương pháp phẫu thuật cắt mí tự nhiên trên người châu Á là tạo nếp mí mới hoặc làm cho nếp mí mờ nhạt trở nên rõ nét hơn, tạo đôi mắt tươi tỉnh, trẻ trung và hấp dẫn hơn trong khi vẫn giữ được nét đặc trưng của người Châu Á.
Mí mắt trên của người Đông Á có một vài nét khác biệt về đặc điểm giải phẫu so với người phương Tây, bao gồm nếp mí thấp, không rõ nét hoặc không có nếp mí, khe mi mắt hẹp và có nếp rẻ quạt. Trong phần lớn các trường hợp thì bờ mi ở những người Châu Á có mắt một mí đều được che đi bởi da mí mắt trên. Vì thế, khi phẫu thuật cắt mí, da mí mắt trên được kéo lên, giúp tăng kích thước đáng kể cho đôi mắt. Đây là phương pháp được rất nhiều người tìm đến để làm cho mắt to và hấp dẫn hơn.
Khi nào nên phẫu thuật cắt mí tự nhiên?
Có nhiều phương pháp tạo mắt hai mí khác nhau, gồm có kỹ thuật bấm mí luồn chỉ không rạch mổ, kỹ thuật rạch mổ một phần và phẫu thuật cắt mí qua đường rạch toàn phần. Việc lựa chọn ra một kỹ thuật phù hợp sẽ dựa trên lựa chọn của khách hàng, “chất lượng” của da và lượng mỡ có ở mí mắt trên. Mỗi một phương pháp tạo nếp mí, dù phẫu thuật hay không phẫu thuật đều có một số ưu điểm và nhược điểm riêng. Ưu điểm của các phương pháp không phẫu thuật là thời gian hồi phục nhanh chóng, không để lại sẹo nhưng nhược điểm là không thể cắt túi mỡ giữa và mô mềm quanh hốc mắt, điều này khiến cho nếp mí mới tạo nhanh biến mất.
Nhược điểm chính của phương pháp phẫu thuật cắt mí là thời gian hồi phục dài (thường mất khoảng 1 tuần để giảm sưng phù). Nhiều người thường lo lắng về vấn đề sẹo nhưng nếu quy trình cắt mí được thực hiện chuẩn xác thì sẽ không để lại sẹo bên ngoài. Tuy nhiên, kỹ thuật rạch một phần thường để lại sẹo rõ hơn so với kỹ thuật rạch toàn phần vì khi rạch một phần, vết sẹo sẽ bị dừng lại đột ngột trên mí mắt.
Phẫu thuật tạo hình mi Châu Á: Vector đầu tiên
Tôi tin rằng kỹ thuật rạch ngoài đã sửa đổi cho phép kiểm soát tốt nhất và linh hoạt để đạt được mục đã tạo mí đôi tối ưu. Điều này dựa trên việc thiết lập một điểm chuẩn cao để đạt được chiều cao nếp mí lý tưởng, với hình dáng nếp mí thích hợp, liên tục của đường mí và độ bền của nếp mí (ít nhất vài năm).
Các bước tiến hành như sau:
- Chuẩn bị thuốc và dụng cụ phẫu thuật
- Thuốc gây mê
- Các bước phẫu thuật:
- Vẽ và xác định nếp mí
- Vectơ đầu tiên – mặt phẳng phẫu thuật và mở vách ngăn ổ mắt
- Cắt tỉa mỡ
- Vectơ thứ hai – cắt bỏ cơ vòng mi và vách ngăn
- Cắt tỉa dọc theo bờ trên sụn mi và vùng trước cân cơ nâng mi
- Tạo hình nếp mí
- Đóng da.
Chuẩn bị thuốc và dụng cụ phẫu thuật
Bệnh nhân được uống diazepam 10 mg (Valium) và Vicodin 5 mg (acetaminophen và hydrocodone) 60 phút trước khi phẫu thuật. Cho bệnh nhân nằm ngửa và đặt đường truyền tĩnh mạch và theo dõi điện tâm đồ. Dụng cụ đo nồng độ O2 PaO2 (khí máu động mạch) cho bệnh nhân. Thở O2, qua mũi 1-2 lít/phút.
Pha thuốc tê và tiêm
Chuẩn bị hỗn hợp 2 loại thuốc tê được:
Đầu tiên: 1 ml xylocaine 2% với epinephrine pha loãng 1: 100 000 được pha loãng 10 × với 9ml nước muối sinh lí. Hỗn hợp này hiện nay có độ pH gần hơn với tính trung lập vì nó đã được pha loãng với tác dụng đệm của nước muối sinh lí. Epinephrine được pha loãng thành 1: 1 000 000. (Dán nhãn là ‘Pha loãng”).
Thứ hai: 5 ml 2% lidocaine (Xylocaine) có chứa 1: 100 000 pha loãng epinephrine được rút ra. Dán nhãn là “Đã pha đầy đủ”).
Nhỏ thoa thuốc tê tại chỗ, 0,5% proparacaine hydrochloride, trên mỗi mắt để tạo sự thoải mái trước khi chuẩn bị phẫu thuật và trải săng. Sử dụng kim số 30 hoặc 32, chích 0,1- 0,2 ml thuốc tê được pha loãng vào dưới da dọc theo bờ trên sụn mi. Đợi vài phút, thuốc mê có hiệu lực và có thể quan sát thấy da vùng gây tê trắng do phản ứng co mạch của hỗn hợp thuốc gây tê epinephrine pha loãng.
Sau đó tiêm 2% lidocaine với epinephrine vào mặt phẳng dưới cơ vòng mi dọc theo bờ trên sụn mi, thường dưới 0,5 ml cho mỗi mí.
Mục đích của việc tiêm thuốc tê tại chỗ bằng 2 lần là để cho tiêm lần thứ 2 được ít đau hơn ở vùng cần phẫu thuật vì 2% lidocaine có tính axit. (Có thể thêm natri bicarbonate vào hỗn hợp 2% để giảm buốt khi tiêm).

Đối với bệnh nhân có giảm đau ngưỡng thấp, có thể gây tê cục bộ vùng dây thần kinh trán.
Dùng kim 30G, chích 0, 5ml gây tê vùng trên ngoài ổ mắt tới giữa ổ mắt. (Chích vào thần kinh trán khi cần thiết.) Có thể dùng thuốc an thần hoặc thuốc giảm đau tĩnh mạch. Vùng mặt và mí mắt được chuẩn bị để phẫu thuật. Nhỏ thêm 1 giọt thuốc tê tại chỗ, dùng tetracaine hydroclorua để giữ tê giác mạc lâu hơn. Để loại bỏ cảm giác sợ bị giam giữ thường xảy ra khi trải săng mổ qua mũi đến giữa mặt, thở O2, qua mũi. Bảo vệ giác mạc bằng kính áp tròng đục trên mỗi mắt.
Ưu điểm
Việc sử dụng dung dịch gây mê pha loãng giúp:
- Giảm đau khi tiêm
- Giảm khối lượng gây mê cần thiết để tiêm
- Ít tạo ra sự biến dạng mí mắt hơn do tăng thể tích và giảm chảy máu; nó cho phép bác sĩ phẫu thuật tập trung vào vùng phẫu thuật.
- Sử dụng không khí trong phòng được cung cấp qua đường hô hấp hoặc oxy lưu lượng thấp giúp giảm cảm giác sợ hãi của bệnh nhân.
- Không sử dụng khí oxy trong một hệ thống mở tiếp xúc với máy đốt đơn cực hoặc lưỡng cực vì có thể gây cháy và bốc cháy.
- Đo oxy mao mạch để độ bão hòa oxy trong máu động mạch PaO2. Thuốc giảm đau trước phẫu thuật và trong phẫu thuật có thể dễ dàng kiểm soát ngưng thở ở bệnh nhân nhạy cảm.
Các bước phẫu thuật cắt mắt 2 mí
Đo chiều cao sụn mi
Chiều cao sụn mi được xác định ở giữa nếp mí; hình dạng được xác định bằng cách vẽ từ 1/3 trong đến 1/3 ngoài mắt ở đường vẽ dưới, tùy sở thích của bệnh nhân.
Lật mí trên ra và đo chiều cao sụn mi ở giữa mí bằng thước caliper. Chiều cao này thường là từ 6, 5 đến 7,5 mm ở châu Á. Thay đổi: thấp, trung bình và cao.
Dùng cây tăm nhúm với xanh methylene để vẽ tạo mí. Chiều cao nếp mí được vẽ cẩn thận trên mặt và ở phần giữa của mí mắt.
Điểm này nằm phủ qua bờ trên sụn mi và sẽ là điểm thích hợp cho chiều cao mí, dọc theo 1/3 trong của mí mắt, bố trí hình dạng nếp mí: giảm dần ở mũi, song song, chếch lên ở đuôi mắt. Đối với những bệnh nhân đã có nếp mí, bạn vẫn nên đo chiều cao sụn mi để xác nhận rằng nếp mí rõ ràng bạn đang thấy thực sự là đường mí chính xác để sử dụng, cho dù bạn đang có kế hoạch bảo tồn hoặc tăng thêm nó.
Thiết kế nếp mí giảm dần ở mũi
Tại góc mắt trong: đường vẽ bắt đầu ngay đỉnh góc mắt trong hay là ngay nếp quạt mắt.
Ở 1/3 ngoài thì tùy sở thích của bệnh nhân là muốn nếp mi song song hay hơi chếch nhẹ phần đuôi mắt.
Ưu điểm
Dùng cây tăm đè nhẹ lên da tại đường rạch dưới (vị trí nếp mí mới), hướng dẫn bệnh nhân nhìn lên trên ngay cả trước khi vết rạch bắt đầu để đánh giá mức mí có thể xuất hiện như thế nào. (Lưu ý rằng kể khi đã tiêm thuốc tê thì nếp mí sẽ xuất hiện sưng hơn và xa bờ mi hơn.)
- Dùng đầu của cây tăm vẽ và vẽ lại chính xác, so với các bút đánh dấu thông thường có sẵn trong phòng mổ.
- Khi phẫu thuật tạo mí người châu Á, đường rạch dưới sẽ xác định hình dạng và chiều cao của nếp mí tạo ra sau phẫu thuật. Một dải da dài khoảng 2mm sau đó được đánh dấu ở trên và song song với đường rạch dưới này. Đường trên của vết rạch này được nhập lại với đường rạch dưới tại: góc mắt trong kết hợp với bất kỳ nếp mí nào đã có. Da ở đoạn này được cắt bỏ ít hơn 2 mm so với phần giữa của nếp mí.
- Đo lại và xác nhận các đường rạch là rất quan trọng.
Thiết kế nếp mí song song
Đo chiều cao bờ trên sụn mi và vẽ bề rộng của mí mắt theo kiểu song song (cách đều từ bờ mi).
Để tạo độ bám dính thích hợp, cần lấy bỏ ít mô dưới da ở bờ trên sụn mi. Một dải da đo khoảng 2mm sau đó được đánh dấu ở trên và song song với đường rạch dưới.

Ưu điểm
Trong thiết kế nếp mí song song, nếp mí có xu hướng hội tụ về phía góc trong của mắt, do đó dễ biến nó thành một nếp mí giảm dần ở mũi. Tôi thường cố ý vẽ các nếp mí giảm dần ở mũi trước và sau đó sử dụng nó như là một hướng dẫn trực quan để quyết định làm thế nào một nếp mí song song nên được thiết kế gần 1/3 trong của mí trên, để nhắc nhở bản thân mình để song song.
Cẩn thận
- Phía trong nếp mí song song thì không nên quá xa góc mắt trong.
- Đầu trong đường mí không được đi quá qua góc mắt trong (chiều dọc) cho cả nếp mí giảm dần ở mũi và nếp mí song song.
- Đầu ngoài, thiết kế mí không được đi quá góc mắt ngoài.
Đường rạch da
Vết rạch sau đó được thực hiện bằng cách sử dụng một lưỡi dao số 15 (Bard – Parker) rạch dọc theo các đường trên và dưới, chỉ rạch qua da và đến cân cơ vòng mi. Dùng đầu đốt lưỡng cực Wetfield để cầm máu.
Có trường hợp không cần cắt bỏ một dải da; Tuy nhiên, tác giả cho rằng nó tạo điều kiện cho việc loại bỏ các lớp tiếp theo của các mô dưới da, do đó cho phép hình thành nếp mí đầy đủ. Lúc này, chúng ta thấy: bờ trên sụn mi phần trước sụn và phần cơ vòng mi trên sụn, có thể phần cuối cùng của vách ngăn, và các sợi cuối của cân cơ nâng mi nằm bên dưới vách ngăn.
- Điều quan trọng là phải ổn định sụn mi, da và tổ chức phần mềm phủ qua khi rạch liên tục, đặc biệt là dọc theo đường rạch; đây là một bước quan trọng để tạo nếp mí.
- Đường rạch liên tục có thể được thực hiện ba bước để có thể kiểm tra lại từng đoạn.
Đối với một bác sĩ phẫu thuật thuận tay phải và ngồi ở đầu bàn, đối với mí trên bên phải, tốt nhất nên bắt đầu từ trong; và cho nếp trên bên trái có thể bắt đầu từ bên ngoài của đường rạch.
- Dùng đầu đốt lưỡng cực jeweler để cầm máu kỹ. Điều này cho phép các bác sĩ phẫu thuật để giảm bớt phù nề mô và lộ rõ mặt phẳng tổ chức, do đó duy trì phẫu trường rõ ràng. Hơn nữa, nó cho thấy rõ các phần giữa 2 đường rạch.

Dễ dàng rạch quá sâu và gây chảy máu từ cơ cơ vong mi, sẽ sớm tạo thành tụ máu và gây móp méo đường rạch cũng như mặt phẳng rạch, làm khó phân biệt giữa mỡ, cơ vong mi, vách ngăn ổ mắt và cân cơ nâng mi dọc bờ trên sụn mi. Cũng có thể dẫn đến sụp mi thoáng qua sau phẫu thuật (dễ xảy ra với phương pháp khâu buộc vì kim được xuyên qua toàn bộ chiều dày các lớp của mi mắt, sáu đoạn khi sử dụng ba bộ mũi khâu).
Vector đầu tiên (Đoạn mặt phẳng qua mặt trước của mí mắt): Vát qua cơ vong mi dọc theo đường rạch trên và mở vách ngăn
Sau khi rạch da ban đầu, người ta có thể sử dụng các ngón tay trái để kéo bờ đường rạch trên lên cao, sau đó dùng đầu đốt lưỡng cực đốt vùng cơ nâng mi trước sụn, biết rằng đường rạch trên chỉ cách bờ trên sụn mi khoảng 2-3 mm, châm đầu đốt tại những chỗ mà vách ngăn hòa lẫn với cân cơ nâng mi (Ở người châu Á, vách ngăn ổ mắt có thể tham gia vào cân cơ nâng mi ở mức thấp 2-3 mm trên bờ trên sụn mi). Việc sử dụng đầu đốt lưỡng cực để dễ dàng tiếp xúc với vách ngăn. Lúc này, có thể thấy túi mỡ. Khi mở vách ngăn ở giữa mí mắt, ta thấy ngay một túi mỡ phòi ra. Dùng kéo Westcott cắt vách ngăn dọc theo đường mổ trên; dùng móc kéo vạt da – cơ vòng mi – vách ngăn xuống dưới dọc theo bờ trên sụn.
Luôn nghiêng đầu kéo lên trên khi cắt vách ngăn. Mục đích là để tránh tổn thương mạch máu ở túi mỡ, và các túi mỡ, cũng như các thùy của tuyến lệ ở phía trên ngoài.
- Khi mở phần trong vách ngăn, cơ nâng mi có thể bị tổn thương.
- Khi mở phần ngoài vách ngăn, tuyến lệ có thể bị tổn thương.
- Tránh sử dụng đầu đốt đơn cực ở phần trong gần mũi trong ổ mắt, tránh vùng lồi câu của cơ chéo trên, dễ liệt dây thần kinh IV, nhìn xoắn đôi.
- Tránh đốt qua tuyến lệ ở vùng trên ngoài mặt trước trần ổ mắt, có thể ảnh hưởng đến tiết nước mắt.
Tham khảo sách y học
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: Bác sĩ Hồ Cao Vũ/ Dr Hồ Cao Vũ
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/
Bác sĩ Hồ Cao Vũ đã có hơn 20 năm chuyên bệnh lí lành tính và ung thư vú tại bệnh viện Chợ Rẫy, hơn 10 năm trong lĩnh vực thẩm mỹ và tạo hình sử dụng bằng dao Harmonic, dao Ligasure. Bs Vũ còn chuyên sửa các ca ngực hư, ngực lệch, ngực lộ túi, vỡ túi, bao xơ cấp độ 1 đến 4, tháo túi ngực… đã trải qua khóa đào tạo trực tiếp tại MD Aderson Cancer Center Hospital, Houston, Texas, USA tại Khoa phẫu thuật tạo hình Giáo sư David Chang là người hướng dẫn trực tiếp. Theo thông tin từ chính hãng Johnson & Johnson: “ThS. Bs. Hồ Cao Vũ là người đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam hiện nay sử dụng Harmonic Scalpel trong phẫu thuật nâng ngực.

