Tất cả kỹ thuật cắt bỏ thu gọn ngực chảy xệ bao gồm ba thao tác cơ bản:
1- Loại bỏ các mô vú quá mức
2- Cắt bỏ da thừa để phù hợp với thể tích mô tuyến sau khi giảm
3- Đặt lại vị trí của NAC

Dịch chuyển NAC nhiều loại cuống
Lý tưởng nhất, NAC được đặt lại vị trí với nguồn cung cấp thần kinh mạch máu nguyên vẹn. Ba cách phổ biến để làm điều này như sau:
1- Trên một cuống nhu mô
2- Trên một cuống da
3- Trên một cuống da-nhu mô, là phổ biến nhất.
Khi cuống nhu mô da được sử dụng, NAC được gắn lại vào lớp hạ bì xung quanh và nhu mô bên dưới để bảo tồn đám rối dưới da nuôi dưỡng quầng vú. Lợi ích thực sự của lớp hạ bì có thể là cải thiện dẫn lưu tĩnh mạch hơn là cung cấp tưới máu của động mạch.
Trong một số trường hợp, việc di chuyển NAC trên 1 cuống mạch máu – thần kinh là không thực tế, không thể. Thay vào đó, phức hợp được loại bỏ khỏi vú và thay thế ở vị trí mới của nó dưới dạng mảnh ghép tự do. Kỹ thuật nâng ngực chảy xệ này được mô tả chi tiết hơn dưới đây.
Nhiều biến thể của thiết kế cuống đã được hình thành. Các cuống có thể dựa trên phía trên, trên trong, trong, trên ngoài, ngoài, dưới và trên cả hai mặt phẳng ngang hoặc đứng. Tất cả các cuống này duy trì đầy đủ tưới máu đến NAC bất kể các mô hình cắt bỏ nhu mô khác nhau như thế nào.
Mặc dù các cuống có thể thay đổi, nhưng phần lớn các kỹ thuật cắt bỏ nhu mô này được kết hợp với một mô hình loại bỏ da Wise ở cực dưới, dẫn đến vết sẹo mổ “T ngược”. Kỹ thuật vết sẹo ngắn sử dụng nhiều kỹ thuật cắt bỏ da khác nhau và được bàn luận trong phần khác gọi là kỹ thuật sẹo ngắn trong tài liệu này.

Kỹ thuật 2 cuống ngang
Năm 1960, Strombeck 13 đã mô tả một kỹ thuật nâng ngực chảy xệ liên quan đến việc cắt bỏ phần ngang và dọc của mô tuyến từ cực dưới, chuyển núm vú sang vị trí mới của nó trên một vạt da cuống đôi ngang. Khi mổ trên ngực nhiều mỡ, hoặc khi núm vú bị lộn vào trong hoặc ở dưới. Strombeck chia cuống bên để tạo một vạt da chuyển tiếp đơn, bên trong. Tác giả đã cảnh báo việc bóc tách bên dưới lớp da và mô tuyến vú, ủng hộ về việc đánh dấu trước phẫu thuật theo kiểu Wise và sử dụng IMF để hướng dẫn vị trí đặt núm vú. Quy trình phẫu thuật cắt bỏ vú của Strombeck đã bị chỉ trích trên cơ sở đặt núm vú khó khăn, hành động vụng về của cuống trong phẫu thuật và tỷ lệ cao núm vú mất cảm giác sau phẫu thuật.
Kỹ thuật cuống ngang
Skoog đã mô tả một cuộc mổ trong đó NAC được nâng lên trên một cuống da bên. Thủ thuật thì hầu như là kỹ thuật cắt bỏ Strombeck, với hầu hết là cắt giảm ở phần góc tư dưới và trong.
Nicolle đã sửa đổi quy trình Skoog bằng cách nghiên lỗ đường mổ nghiêng về góc tư phía bên dưới ngoài của ngực và mang núm vú trên 1 cuống da tuyến bên ngoài, thay vì chỉ là 1 cuốn da như được mô tả bởi Skoog.
Botta và Rifai đã trình bày chi tiết các cải tiến của họ về kỹ thuật cuống bên Skoog để phẫu thuật thu gọn ngực. Đáng chú ý là họ hạn chế chuyển vị trí núm vú tối đa 15 cm để giảm nguy cơ hoại tử núm vú. Vị trí núm vú mới cách hõm ức từ 20 đến 23cm và góc phân kỳ giữa cạnh dọc của phần da cắt bỏ là 90 đến 110 độ tùy thuộc vào chiều rộng của vú. Tỷ lệ biến chứng được báo cáo bởi Botta và Rifai tương tự như báo cáo của các tác giả khác.
Kỹ thuật cuống trên
Năm 1973, Weiner et al đã mô tả phẫu thuật với cắt bỏ nhu mô góc dưới của Arie-Pitanguy và chuyển vị trí núm vú trên một vạt da phía trên. Kể từ đó, nhiều cải tiến trong kỹ thuật cuống phía trên đã được công bố. Robbins và Hoffman đã trình bày kết quả của 193 lần thu gọn ngực được thực hiện với kỹ thuật cuống da tuyến phía trên. Phẫu thuật họ sử dụng dựa trên các quy trình được trình bày bởi Weiner et al và Hugo và McClel-lan, ngoại trừ núm vú được hoán vị trên một cuống không chỉ chứa lớp hạ bì mà còn toàn bộ nhu mô vú bên dưới. Núm quầng vú chính lột da phát triển ở 1,4% bệnh nhân và mảnh lột nhỏ hoặc vỡ biểu bì trong 4,3%, chủ yếu sau khi giảm thể tích ngực lớn. Sau phẫu thuật, cảm giác núm vú được đánh giá chủ quan là tốt. Sáu bệnh nhân đã được chuyển đổi từ một kỹ thuật cuống trên đã được lên kế hoạch sang cắt cụt bằng cách ghép núm vú – quầng vú tự do vì sự thông thương mạch máu được phát hiện trong phẫu thuật. Nếu một mảnh ghép trở nên cần thiết, lớp hạ bì khỏe mạnh tại vị trí được để xuất cho NAC là một điểm khác. Antony et al đã tiến hành một nghiên cứu đoàn hệ phù hợp so sánh 100 bệnh nhân trải qua thu gọn cuống trong trên thu gọn xuống dưới. Khối lượng giảm cao tới 2000g trong mỗi nhóm. Kết quả là tuyệt vời ở cả hai nhóm và không có sự khác biệt đáng kể đã được quan sát trong các biến chứng chính.
Matarasso và Pitanguy đã xem xét kỹ thuật cổ điển thu gọn ngực của Arie-Pi-Tanguy, liên quan đến một cuống trên. Tùy thuộc vào mức độ phì đại vú sa trễ, bệnh nhân có thể để lại vết sẹo dọc quanh quầng hoặc sẹo T ngược. Các kỹ thuật cuống trên đã được chứng minh là đáng tin cậy nhưng cuống trên bị hạn chế do không thể di chuyển núm vú khoảng cách xa hơn, đặc biệt ở những bệnh nhân bị phì đại ngực đáng kể. Thông tin chi tiết được thảo luận trong phần cắt bỏ sẹo ngắn.

Kỹ thuật cuống đôi dọc
Năm 1976, McKissock đã mô tả phẫu thuật ngực cuống đôi dọc khi mà phần dưới, bao gồm NAC, có chứa một phần da tuyến. Vạt trên được làm mỏng nhu mô bên dưới và khu vực phía trên núm vú chỉ còn lại lớp hạ bì. Chiều dài cuống tối đa được đề nghị cho kỹ thuật này là 40cm. Sàn xuống dưới thì giảm dần về phía ngoài đẻ nguồn cung cấp máu và giúp bảo tồn cảm giác cho núm vú.
Kỹ thuộc này đã bị chỉ trích trên cơ sở mất độ nhô sau khoảng thời gian dài và sa trễ thứ phát từ “ngực bottoming out” của cuống da tuyến. Ngoài ra, kỹ thuật này thường có kết quả để lại sẹo dưới nếp vú dài và vú rộng.

Kỹ thuật cuống dưới
Nhiều tác giả, bao gồm Ribeiro, Robbins, Courtiss và Goldwyn và Georgiade và cộng sự đã mô tả phẫu thuật thu gọn ngực với chuyển vị trí núm vú trên 1 cuống da tuyến phía dưới. Thể tích ngực 300g đến 2500g có thể được loại bỏ an toàn. Mandrekas et al đã báo cáo một kinh nghiệm thuận lợi với kỹ thuật cuống dưới để phẫu thuật thu gọn ngực. Các tác giả đã tìm thấy kỹ thuật này là linh hoạt và liên quan đến một số biến chứng: 11,4% tổng thể. Trong số những bệnh nhân mang thai sau phẫu thuật, 72% có thể tiết sữa. không cảm giác núm vú được ghi nhận ở 5 bệnh nhân. Tỷ lệ thấp được cho là giữa lại 0,5 đến 1cm chất béo và mô vú trên cơ ngực lớn, điều này tránh được các nhánh xuyên của các dây thần kinh liên sườn thứ ba đến thứ năm chạy dọc theo bề mặt cơ trước khi vào các tuyến.
Courtiss và Goldwyn mô tả nghiêng lỗ mổ vào phía bên để bảo tồn các nhánh da bên của dây thần kinh liên sườn thứ tư và thứ năm. Bệnh nhân có cảm giác núm vú bình thường trước khi phẫu thuật cho thấy không có thay đổi sau phẫu thuật. Các tác giả đã đề nghị một đoạn ngắn trong của lỗ mổ, dài không quá 4 đến 5 cm, để ngăn chặn núm vú kết thúc quá cao ở phía trên ngực.
Kỹ thuật cuống dưới có xu hướng dẫn đến ngực hình họp, sẹo phì đại và độ nhô tệ 1 thời gian dài với “ngực bottoming out”. Hidalgo đã xem xét hàng loạt bệnh nhân của mình gồm 251 bệnh nhân được theo dõi nhiều hơn 12 năm. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đặt bệnh nhân ngồi thẳng đứng trên bàn mổ để định hình cuối cùng của độ che phủ da. Để ngăn ngừa vú hình hộp, điều chỉnh được thực hiện tại nếp vú dưới bằng cách phân tích đường vú dọc và tạo ra hình dạng lý tưởng của góc dưới vú.
Hình dạng của NAC được đánh giá với bệnh nhân thẳng đứng và vùng da xung quanh được cắt bỏ khi cần thiết để tạo ra một đường viền tròn. Hidalgo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định vị trí bệnh nhân phẫu thuật, cầm máu, nâng vạt da và cắt bỏ tuyến trong các mặt phẳng thích hợp để cải thiện sự an toàn của bệnh nhân và hạn chế các biến chứng.
Trong một cuộc khảo sát của Hiệp hội phẫu thuật Thẩm mỹ Hoa Kỳ năm 2002 với 554 người được hỏi, 56% bác sĩ phẫu thuật đã báo cáo chỉ sử dụng một kỹ thuật dưới và kiểu kỹ thuật cắt bỏ của Wise. Kỹ thuật tạo cuống dưới đã được sử dụng rộng rãi ở Hoa Kỳ. Mặc dù kết quả tổng thể đã đạt yêu cầu, nhưng các kỹ thuật cải tiến cuống dưới thiếu sự hỗ trợ của nhu mô và vú cuối cùng sẽ “Bottom out”. Mặc dù rút ngắn khoảng cách núm vú IMF có thể giúp chống lại xu hướng này, nhưng nó phải được cân bằng chống lại sự đóng vết thương quá mức và nguy cơ của các biến chứng lành vết thương.
NAC cũng có thể được dịch chuyển trên một cuống da tuyến phía trong. Nahabedian et al đã báo cáo kinh nghiệm của hj thu gọn ngực cuống trong cho phì đại ngực nặng; 44 trên 45 vú đã giảm kích cỡ thành công với kỹ thuật này. Một trường hợp liên quan đến việc chuyển đổi sang mảnh ghép núm vú tự do vì phần xa của cuống thiếu nuôi dưỡng. Cắt bỏ trung bình 1604g. Cảm giác NAC được giữ lại 43 vú. Độ nhô vú và núm vú đã đạt được thỏa mãn trong tất cả bệnh nhân.
Hall-Findlay đã sử dụng một cuống bên trong một kĩ thuật sẹo ngắn dọc. kỹ thuật này được thảo luận trong phần phẫu thuật ngực dọc.
Vấn đề nan giải về làm thế nào để tối đa sự lưu thông mạch máu của cuống dài trong khi đảm bảo cắt bỏ mô đầy đủ là phổ biến. Việc thay thế mảnh ghép núm vú tự do cũng có những hạn chế cụ thể. Tuy nhiên, hầu hết các các kỹ thuật nâng ngực chảy xệ bằng cuống trong xác nhận rằng bệnh nhân của họ hài lòng.
Tham khảo sách y học
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: Bác sĩ Hồ Cao Vũ/ Dr Hồ Cao Vũ
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/
Bác sĩ Hồ Cao Vũ đã có hơn 20 năm chuyên bệnh lí lành tính và ung thư vú tại bệnh viện Chợ Rẫy, hơn 10 năm trong lĩnh vực thẩm mỹ và tạo hình sử dụng bằng dao Harmonic. Bs Vũ còn chuyên sửa các ca ngực hư, ngực lệch, ngực lộ túi, vỡ túi, bao xơ cấp độ 1 đến 4… đã trải qua khóa đào tạo trực tiếp tại MD Aderson Cancer Center Hospital, Houston, Texas, USA tại Khoa phẫu thuật tạo hình Giáo sư David Chang là người hướng dẫn trực tiếp. Theo thông tin từ chính hãng Johnson & Johnson: “ThS. Bs. Hồ Cao Vũ là người đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam hiện nay sử dụng Harmonic Scalpel trong phẫu thuật vòng 1”.

