Kỹ thuật sẹo dọc và kỹ thuật sẹo T đảo ngược.
Sẹo dọc và kỹ thuật sẹo T đảo ngược song song với các kỹ thuật nâng ngực chảy xệ thu gọn ngực đã thảo luận trước đây. Các kỹ thuật phẫu thuật sẹo dọc được trình bày bởi Lassus, Lejour, Hall-Findlay và Hammond hoạt động tốt như nhau cho phẫu thuật sa trễ, nếu không nói tốt hơn. Kỹ thuật sẹo dọc có thể được áp dụng cho bệnh nhân với tất cả các độ sa trễ, nhưng cắt bỏ dạng chữ T ngược và Wise thường được sử dụng ở những bệnh nhân bị sa trễ nặng. Rohrich et al đã xem xét các khái niệm hiện tại và sự phát triển của các kỹ thuật phẫu thuật sa trễ sẹo ngắn.

Cải thiện độ nhớ trong phẫu thuật nâng ngực chảy xệ
Một số sửa đổi của các kỹ thuật nâng ngực chảy xệ đã được đề xuất để cải thiện độ nhô vú. Độ nhô trong phẫu thuật sa trễ ngực được thực hiện bằng một số thao tác:
- Sử dụng độ dày nhu mô tại chỗ và sau đó nén các mô tuyến còn lại để tạo hình nón. Điều này đúng với hầu hết mọi thủ thuật phẫu thuật sa trễ ở một số hình thức. Hình nón dễ dàng được tạo ra, nhưng để nó tồn tại lâu là một thách thức. Khâu đóng các trụ phần dưới vú là một cách tốt nhất để đảm bảo “áp lực” nén này qua thời gian dài.
- Thực hiện khâu neo nhu mô, chẳng hạn như Thủ thuật Graf-Bigss (xem bên dưới).
- Bao gồm phẫu thuật nâng ngực chảy xệ cộng với đặt túi ngực.
Graf et al đã báo cáo một biến thể phẫu thuật mà tạo ra sự đầy đặn và hình dạng cực trên dài hạn tốt hơn cho ngực sau phẫu thuật cắt bỏ vú hoặc phẫu thuật thu gọn. Mô tả ngắn gọn, một vạt da tuyến ở góc dưới thành ngực được đưa lên trên bên dưới vòng cơ ngực và được khấu treo bởi một vòng cơ, tạo ra sự xếp chồng nhu mô, độ đầy của cực trên và độ nhô của vú. Một số lo ngại đã được lên tiếng về việc đặt các mô vú bên dưới cơ ngực lớn, nhưng nó không phải là một vấn đề trong kinh nghiệm của Graf et al. Thủ tục tiêu chuẩn dẫn đến sẹo quanh quầng vú và sẹo dọc kéo dài sang bên. Ở những bệnh nhân có độ đàn hồi da kém và lỏng lẻo quá mức, 1 vết sẹo T ngược có thể được chỉ định. Thao tác vạt góc dưới thành ngực cũng có thể được kết hợp vào các kỹ thuật phẫu thuật sa trễ khác.

Một biến thể khác tạo ra một chiếc áo choàng quanh da quầng vú rộng 2cm để hỗ trợ tuyến trong phẫu thuật sa trễ. Hình dạng của vật tương ứng với dạng da ban đầu của phẫu thuật ngực và được phân cuống vào NAC. 1 khi hoàn thành việc định hình lại nhu mô, áo choàng da được bám chắc vào cơ ngực lớn và mô tuyến.
Theo Gulyas, ưu điểm của áo choàng da bao gồm núm vú tròn, trung tâm, độ nhô tốt; đặt áp lực lên các mô tuyến vú; xác định lại vị trí NAC và hỗ trợ tuyến lâu dài. Nhược điểm bao gồm thời gian phẫu thuật lâu hơn, tăng nguy cơ u nang da và thực tế là áo choàng dạ không thay thế cho việc tái tạo tuyến.
Caldeira và Lucas đã báo cáo một sửa đổi tương tự sử dụng vạt cơ của cơ ngực lớn để tăng cường hỗ trợ vú. Ngoài hình dạng và độ nhô vú được cải thiện, các tác giả còn ghi nhận sự sụt giảm về sự mở rộng vết sẹo sau phẫu thuật bằng cách cho phép cơ hỗ trợ khối lượng của vú. Flowers và Smith đã mô tả một phẫu thuật sa trễ flip-flap tạo ra một vật nhu mô rộng phía trên sâu đến hai cuống dọc để hoán vị núm vú (kiểu McKis sock). Vạt được neo vào màng cơ ngực tại vị trí của xương sườn thứ hai với chỉ khâu polyglactin 2-0. phẫu thuật sa trễ flip-flap cho phép di chuyển đáng tin cậy của núm vú và mô vú trong khi giảm lực căng trên vạt da. Kỹ thuật có thể được kết hợp với đặt túi ngực khi được chỉ định.

Trong một nỗ lực để hỗ trợ cực dưới của vú sa trễ, Svedman đã bóc tách sâu một vùng da hình lưỡi liềm ngay dưới nếp dưới vú và mổ xẻ một vạt mảng cơ ngực dưới. Với phương pháp này, vạt được gấp lại trên một nửa đuôi của tuyến vú để tạo thành một dải màng cơ cho cực dưới của vú.
Cung cấp máu cho vạt chủ yếu thông qua các động mạch liên sườn ngoài và các nhánh cuối của động mạch ngực trong và từ các động mạch thượng vị tại vị trí của xương sườn thứ sáu. Svedman báo cáo rằng vạt đóng góp 25 đến 80 ml thể tích đến vú và phòng ngừa sự cần thiết đặt một phần nhân tạo. Theo dõi sau 3 và 6 tháng ghi nhận sự ổn định sớm của cub màng cơ ví dụ, khoảng cách núm vú – IMF không thay đổi đáng kể, mặc dù khoảng cách giữa hõm ức và IMF đã tăng khoảng 1cm trong lần khám sau 3 tháng. Tuy nhiên, sự thay đổi cuối này của IMF không được bệnh nhân chú ý.
Rubin và Khachi đã báo cáo bằng cách sử dụng một vết rạch da theo mô hình Wise tiêu chuẩn với một cuống dưới, nhưng với phương pháp của họ, họ tái biểu mô hóa cuống và các tam giác bên trong và bên ngoài của mô hình Wise. Sau đó, họ gấp trong mô bên trong và bên ngoài đến cuống dưới, trung tâm để tạo ra một dải da và cung cấp một số tự động nâng đỡ. Tương tự như vậy, Colwell và Breuing đã báo cáo việc sử dụng AlloDerm (Acelity, San Antonio. TX), một tấm mô da của tử thi, như một sợi dây da bên trong để kiểm soát hình dạng vú, vị trí và độ rộng của sàn ngực.

Như đúng với phẫu thuật nâng ngực chảy xệ, nhiều kỹ thuật hoạt động tốt và không có một phẫu thuật nào tốt nhất cho tất cả bệnh nhân. Những cân nhắc khác là hình dạng vú mà một phẫu thuật sa trễ nhất định có khả năng tạo ra và hoàn cảnh cụ thể của một ca. Ví dụ, các kỹ thuật cuống dưới có xu hướng hạ thấp IMF, trong khi các kỹ thuật cuống trên hoặc cuống trong (Lassus, Le Jour, Hall-Find lay, Hammond) khiến IMF tăng lên. Một ví dụ khác, trong trường hợp thủ thuật vú đối diện sau khi tái tạo vú, một phẫu thuật sa trễ mà không cần độ nhô cần cân nhắc. Trong tình huống đó, một kỹ thuật cuống dưới sẽ giảm thiểu việc xếp nhu mô và tránh hình nón quá mức.
Hơn nữa, nhiều kỹ thuật thu nhỏ ngực được trình bày trong phần trước có thể áp dụng cho phẫu thuật sa trễ. Đặc biệt, phẫu thuật ngực sẹo ngắn, bao gồm cả những kỹ thuật được trình bày bởi Góes, Lassus, Le Jour, Hall-Findlay và Hammond có thể áp dụng vào phẫu thuật sa trễ. Không một kĩ thuật nào có những thuận lợi rõ ràng hơn những kĩ thuật khác. Cần đề nghị rằng phẫu thuật cần đánh giá thật mạnh mẽ kết quả với nhiều kĩ thuật và phát triển và cải tiến một phương pháp ưa thích để tạo ra hình dạng vú tốt nhất với kết quả lâu dài hơn cho các thủ thuật phẫu thuật sa trễ.

Theo Reese và Aston, vú hình củ là một tuyến bị cắt ngắn thiếu cả hai chiều dọc và ngang. Sàn của vú bị thu hẹp và quầng vú lớn không tương xứng, tạo ra sự thoát vị rõ ràng của mô vú vào quầng vú (giả thoát vị).
Nhiều kỹ thuật đã được mô tả để chỉnh sửa biến dạng vú hình ống. Một số tác giả đã ủng hộ phẫu thuật sa trễ quanh quầng vú hoặc hình vòng bánh donut để sửa chữa. Các vật da bị bóc tách sâu trong một khoảng ngắn và các mô vú được cho phép lật vào bên trong, giúp làm ngắn tuyến nhô ra, kéo dài nhưng không làm rộng sản ngực.
Vào năm 1987, Dinner và Dowden chỉ ra rằng thu hẹp sàn vú hình ống là nguyên nhân gây ra chủ yếu bởi thiếu da. Các tác giả đề nghị giải phóng da theo chiều dọc với sự thêm vào một vạt dưới vú để mở rộng đường kính sàn ngực.
Versaci và Rozzelle liệt kê các mục tiêu của phẫu thuật chỉnh sửa ngực củ như sau:
- Mở rộng chu vi của sàn vú.
- Mở rộng da của bán cầu dưới của vú.
- Giải phóng độ căng của da tại điểm nối vú – quầng vú.
- Hạ IMF.
- Tăng thể tích vú.
- Giảm kích thước quầng vú và điều chỉnh thoát vị của nó.
- Sửa sa trễ vú nếu cần.

Versaci và Rozzelle lưu ý rằng họ ủng hộ mở rộng mô để tăng thể tích da và báo cáo kinh nghiệm của họ với bảy bệnh nhân (10 vú) bằng cách sử dụng kết hợp các máy mở rộng và đặt túi ngực riêng biệt hoặc đặt túi ghép giãn nở Becker 50/50 (Mentor Worldwide, LLC, Irvine, CA). Các tác giả đề xuất một cách tiếp cận giai đoạn hai. Ở giai đoạn đầu tiên, thiết bị mở rộng mô được chèn vào; ở giai đoạn thứ hai, thiết bị mở rộng được thay đổi cho một túi ngực vĩnh viễn (hoặc, nếu là thiết bị Becker, phần làm đầy được loại bỏ) và quầng vú giảm. Các biến chứng xảy ra trong chuỗi là rất ít và kết quả được minh họa là tốt nhất có thể mong đợi khi đối mặt với vấn đề khó khăn này.
Biến dạng vú hình củ co rút đáng kể được điều trị tốt nhất với một quy trình theo giai đoạn bao gồm cả việc đặt thiết bị giãn nở ban đầu. Việc sử dụng thiết bị mở rộng bơm hơi là một lựa chọn khả thi, đặc biệt đối với một bệnh nhân bị dị tật nhẹ đến trung bình có thể điều chỉnh đầy đủ với sự mở rộng quá mức sau phẫu thuật sớm và loại bỏ giai đoạn hai trong chỗ làm.
Bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ nên đặc biệt nhận thức được các biến dạng vú hình củ nhẹ hoặc dị dạng ngực co thắt hiện diện để nâng ngực. Bệnh nhân bị dị dạng vú vo thắt hoặc hình củ nhẹ mà xuất hiện để nâng ngực thường không nhận thức được sự thiếu hụt và bất thường về giải phẫu của họ. Không chỉ nên được chỉ định, nhưng các kỹ thuật phẫu thuật cụ thể nên được hướng tới sửa chữa các dị tật. Đối với dị tật vú bị co thắt nhẹ, cách tiếp cận theo quầng vú thì được ưa thích, như là sự lựa chọn của túi ngực mà cho độ nhỏ góc dưới nhiều hơn. Nhiều biến dạng vú dạng củ nhẹ được điều chỉnh đầy đủ trong một giai đoạn nhưng có thể cần rạch nhu mô vú và hạ IMF để điều chỉnh đầy đủ.

Sự phát triển bất cân xứng của vú không phải là hiếm. Sự chênh lệch nhỏ về kích thước vú ít ảnh hưởng đến hầu hết phụ nữ, nhưng sự bất cân xứng nghiêm trọng có thể là nguyên nhân của cả sự khó chịu về thể chất và tâm lý đau khổ. Bộ ngực bất đối xứng không chỉ làm ảnh hưởng hình ảnh bản thân của người phụ nữ mà còn khiến việc mặc quần áo và đồ lót phù hợp trở nên vô cùng khó khăn.
Sandsmark et al đã xem xét quá trình hậu phẫu của 87 bệnh nhân muốn phẫu thuật làm giảm nhẹ bất đối xứng vú. Năm mươi bốn (62%) phụ nữ được điều trị bằng cách chỉ phẫu thuật nâng ngực chảy xệ hoặc phẫu thuật sa trễ và 33 người còn lại cũng được đặt túi ngực. Nhìn chung, 90% là hài lòng với kết quả phẫu thuật và sự hài lòng của bệnh nhân không khác biệt đáng kể giữa những người được đặt túi và những người không đặt. Các tác giả đã làm lưu ý các vấn đề thường xuyên hơn và các thủ thuật hậu phẫu cần thiết hơn để điều chỉnh ở bệnh nhân đặt túi so với những người không có.
Trong một nghiên cứu tương tự, Kuzbari et al đã phân tích kết quả dài hạn của 30 bệnh nhân được điều trị cho các phát triển bất đối xứng vú với nhiều thủ thuật khác nhau, bao gồm phẫu thuật thu gọn ngực hai bên hoặc 1 bên, thu gọn 1 bên với phẫu thuật sa trễ 2 bên vú hoặc nâng ngực, thu gọn 1 bên hoặc nâng ngực 1 bên, nâng ngực 2 bên với phẫu thuật nâng ngực chảy xệ 1 bên, hoặc nâng ngực 1 bên với tái cấu trúc thành ngực. Người bệnh đã được phỏng vấn và kiểm tra 3 đến 16 năm sau khi phẫu thuật chỉnh sửa. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá kỹ thuật phẫu thuật nào mang lại kết quả tốt nhất theo thời gian và liêu tuổi bệnh nhân tại thời điểm phẫu thuật có là một yếu tố.

Quan điểm là việc hoãn phẫu thuật cho đến khi vú trưởng thành ở tuổi 18 hoặc lâu hơn sẽ mang lại hiệu quả rõ ràng hơn, lâu dài hơn. Những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật thu gọn vú 2 bên hoặc phẫu thuật thu gọn vú 1 bên với phẫu thuật sa trễ bên đối diện có kết quả lâu dài hài lòng nhất. Những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật sau 18 tuổi thì tốt hơn một chút so với những người phẫu thuật khi họ còn trẻ, nhưng sự khác biệt không đáng kể. Các tác giả kết luận rằng không phải lúc nào cũng chính đáng để trì hoãn phẫu thuật ở thanh thiếu niên với sự bất cân xứng nghiêm trọng của vú. Nhìn chung, bệnh nhân rất hài lòng với kết quả của họ.
Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình
* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ:
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/

