Trong thẩm mỹ mí mắt, có hai phương pháp chủ yếu: khâu và rạch ra. Mỗi phương pháp có ưu điểm, nhược điểm riêng và cách tiếp cận khác nhau để tạo ra kết quả thẩm mỹ mong muốn. Việc lựa chọn phương pháp thích hợp đòi hỏi kiến thức sâu rộng và tư vấn cẩn thận từ bác sĩ chuyên khoa. Hãy khám phá chi tiết về từng phương pháp và tác động của chúng trong quá trình cắt mí mắt.
Phương pháp phẫu (Khâu vùi) trong cắt mí mắt
Nếu một tác giả nào mô tả kỹ thuật ép da tạo mí/mí mắt ngoài (dùng kẹp giấy, hoặc thiết bị như sợi chỉ áp bên ngoài mí từ Nhật Bản), hoặc khâu vùi xuyên qua độ dày mí mắt từ trước ra sau (da tới kết mạc mi) hoặc quay ngược lại phía trước (kết mạc tới da), và sau đó xem những vết lõm này như một mí mắt, người ta sẽ bắt chước làm nếp mà vị trí của mí không phải lúc nào cũng sinh lý. Chỉ khâu được sử dụng trong phương pháp khâu vùi thường trong thẩm mỹ cắt mí mắt là không tiêu (không tan, như nylon); các chỉ tiêu sẽ không hiệu quả trong các phương pháp khâu này.
Kết quả cắt mí mắt trên là thụ động và đáng chú ý là không tự nhiên khi nhìn xuống. Nếp mí giả này được tạo ra từ các đường khâu ép bên ngoài và các mũi khâu này cài vào nhau và xuyên qua cơ một cách sinh lí, ở 90° tại điểm nhìn thẳng và thêm một số điểm khác. Theo tôi điều đó làm giảm chức năng bình thường của mí mắt.
Phương pháp rạch da trong cắt mí mắt
Sử dụng phương pháp rạch da trong thẩm mỹ cắt mí mắt đòi hỏi phẫu thuật viên phải có kiến thức sâu rộng hơn nhiều, rất thuận lợi cho phẫu thuật viên làm chủ được các kỹ thuật và thực hành. Phương pháp này cho phép lấy bỏ da thừa trên mắt một mí và làm cho mắt trông lớn hơn khi mở, tạo hình dạng nếp mí, chiều cao nếp mí, nếp mí động, nếp mí sinh lí hơn, vết sẹo nếp mí sẽ phai dần tự nhiên (sẹo nông, giảm kích thước) khi mắt nhìn xuống (không nhìn thấy vết khâu trên bề mặt da), và nó có thể đạt được mà không cần phải sử dụng các mũi khâu chỉ không tiêu như phương pháp khâu vùi. Nó mô phỏng nếp mí tự nhiên, thông qua các sợi cân của của cơ nâng mi gắn vào dưới da dọc theo nơi nếp mí tự nhiên sẽ được hình thành sau phẫu thuật.

Cắt chỉ sau 7->10 ngày vì thực sự không cần phải sử dụng mũi khâu neo, cho dù chỉ tiêu hay chỉ không tiêu. Mô phỏng gần như là nếp mí tự nhiên khi lực có đều của cơ nâng mi dọc theo nếp mí.
Người ta có thể so sánh hai phương pháp như thể một người đang cố gắng tạo ra nếp gấp khuỷu tay trên cánh tay ở mô hình tưởng tượng. Phương pháp khâu có thể được sử dụng để tạo ra một “nếp” gần như bất cứ da nơi nào trên cẳng tay và cánh tay. Nếu áp dụng quá ngắn hoặc thấp trên cánh tay, giống như cái kẹp cầm máu, bên cạnh cẳng tay của khớp khuỷu tay; nó không sinh lý nhưng bạn sẽ thấy dấu vết lằn vào giống như nếp gấp khuỷu tay. Nếu thực hiện quá cao (trên cánh tay hoặc phần bắp tay), nếp gấp sẽ trông không tự nhiên và có thể cản trở chức năng co giãn của cơ nhị đầu cẳng tay. Bên cạnh đó, vùng nhận sẽ có sự hiện diện của nó trong các mô cơ.
Bệnh nhân than phiền nếp mí khi khâu cắt mí mắt tạo mí không như mong đợi, khi khâu tạo mí sẽ làm cho vị trí của nếp mí cao thường dẫn đến sụp mi và tạo cảm giác giật mi, thậm chí cảm giác có dị vật trong mí mắt khi chúng ta khâu chôn trong da. Nếu khâu thấp thì nếp mí dễ mất đi và để lại vết sẹo lõm trên mi mắt.
Cuối cùng là vấn đề lâu dài. Người ta thường chấp nhận rằng phương pháp khâu vùi có tỷ lệ mất nếp mí rất cao (tỷ lệ thất bại), có thể xảy ra vì phương pháp này thường không lấy bỏ các mô thừa và các tổ chức cản trở để tạo mí, trừ khi chúng ta mổ 1 đường nhỏ ở giữa và phía ngoài mí mắt thì có thể lấy bỏ đi một ít mỡ. Chỉ khâu có thể bị lỏng ra mặc dù chúng ta đã buột rất chặt để có hiệu quả, chúng có xu hướng cắt qua tổ chức.

Đôi khi khâu đến 3 hay 4 mũi khâu vùi có thể bị lỏng ra và không có tác dụng, và chỗ tạo nếp mí sẽ đây lại như trước, vì vậy nếp mí trông không hoàn thiện hoặc mất tính liên tục và nó không đạt được hiệu quả vĩnh viễn.
Thực tế chúng tôi đã gặp, theo lịch sử và theo quan điểm dân số, hình dạng nếp mí tự nhiên nhất ở người châu Á hoặc là nếp mí giảm dần ở mũi (nơi nếp mí trên hẹp và chạm về phía góc mắt trong) hoặc hình dạng song song, nơi mà nếp mí chạy song song theo đường lông mi (bờ mi). Những mô tả này tất nhiên có phần tùy ý; trong thực tế có thể có nhiều dạng trung gian giữa nếp mí song song và nếp mí có giảm dần ở mũi – ví dụ, nếp mí có thể gần góc mắt trong nhưng không hoàn toàn chạm vào góc mắt trong: hầu hết là song song hay nếp mí có giảm dần ở mũi? [Đây là ý kiến cá nhân tôi rằng nếp mí như vậy vẫn nên được coi là song song, như mí trên và dưới luôn luôn tham gia tại góc mắt trong với bờ mi trên dốc xuống.
Xét về chiều cao của nếp mí (tức là chiều rộng của phần giữa khi mí mắt mở), ý kiến cho là có một dải rất hẹp cho sự thay đổi chiều cao nếp mí (milimet).
Nó liên quan tới kích thước thực tế của sụn mi trên ở riêng từng người (thảo luận = Chương 1) khi mở mắt. Bờ trên sụn mi sẽ quyết định chiều cao của nếp mí ở phần giữa mí trên. Có thể thấp hơn một chút, nhưng không cao hơn nhiều so với mức độ tự nhiên của mí, mà không cần phải đi sâu vào các vùng có thể xảy ra biến chứng.
Tôi muốn chia sẻ một số quan điểm cá nhân. Trong y học, phần lớn bệnh nhân ít hiểu biết hơn bác sĩ và nhiệm vụ của bác sĩ là tư vấn cho bệnh nhân về điều gì là đúng đắn, bình thường và tự nhiên về kết quả điều trị và kỳ vọng của họ. Bác sĩ đã thề với lời tuyên thệ của Hypocate về chữa bệnh “không gây hại”. Tuy nhiên, trong phẫu thuật thẩm mỹ, lời thề này phần nào bị giảm đi, vì lý do gì đó, có cả bệnh nhân cũng như bác sĩ cảm thấy năng lực và sở thích của họ vượt trội hơn mọi người, cũng như bất kỳ sự khôn ngoan thông thường nào.
Bên cạnh những bệnh nhân có vấn đề về rối loạn chức năng cơ thể, cũng có những bệnh nhân thường xuyên cảm thấy họ muốn nếp mí rất cao, và không hiểu những rủi ro liên quan, sẽ yêu cầu tiến hành quy trình như vậy và bác sĩ phẫu thuật đồng ý. Trong một tình huống như thế này, điều quan trọng là các bác sĩ phẫu thuật phải có kiến thức và có kỹ thuật để tư vấn cho bệnh nhân về những lo ngại về phẫu thuật khi phải đối mặt với yêu cầu độc đáo như vậy. Bác sĩ phẫu thuật không được dao động theo cách của bệnh nhân. Điều đặc biệt quan trọng là không đi với trào lưu hiện tại hoặc phương tiện truyền thông. Sự khác biệt này ở mức độ kiến thức có thể bị lệch theo một trong hai hướng, thông qua sự thiếu hiểu biết của bệnh nhân, hoặc bệnh nhân quá hiểu biết phải đối mặt với bác sĩ phẫu thuật thiếu kiến thức.

