Skip to content
Tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình bác sĩ Hồ Cao Vũ – BV Chợ RẫyTư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình bác sĩ Hồ Cao Vũ – BV Chợ RẫyTư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình bác sĩ Hồ Cao Vũ – BV Chợ Rẫy
  • Đăng ký tư vấn
  • Đăng ký tư vấn
  • Trang chủ
  • Thẩm mỹ
    • Thẩm mỹ nâng ngực
    • Treo ngực sa trễ
    • Tái tạo vú
    • Tháo túi độn
    • Tạo hình thành bụng
    • Thẩm mỹ vùng mắt
    • Cắt mí
    • Căng da mặt
    • Thẩm mỹ nâng mông
    • Nâng mũi
    • Thẩm mỹ vùng kín
    • Độn cằm
  • Hồ sơ bác sĩ
  • Video
  • Hình ảnh
    • Nâng ngực
    • Nâng cung mày
    • Hình ảnh nâng mũi
    • Hình ảnh độn cằm
    • Hình ảnh cắt mí
    • Nhấn mí
    • Tạo hình thành bụng
    • Tháo túi ngực
  • Câu hỏi thường gặp
    • Chăm sóc sau phẫu thuật
    • Câu chuyện
      • Tháo túi ngực
    • Bệnh lý
  • Tin tức
  • Liên hệ
Trang chủ » Thẩm Mỹ » Sẹo sau tạo hình thành bụng là gì? Cách khắc phục

Tạo hình thành bụng

Hút mỡ tạo hình thành bụng có nguy hiểm không

01/10/2022
434 lượt xem

Mục Lục Bài Viết

Toggle
  • Hút mỡ tạo hình thành bụng có nguy hiểm không
  • Nguyên ủy và các dạng phân nhánh của động mạch thượng vị dưới.
  •  Vị trí ĐMTVD với cơ thẳng bụng và vị trí vào cơ trong phẫu thuật tạo hình thành bụng
  • Kích thước động mạch thượng vị dưới
  • Đặc điểm giải phẫu mạch xuyên động mạch thượng vị dưới
    • + Số lượng mạch xuyên
    • + Phân loại và hướng mạch xuyên từ động mạch thượng vị dưới.
    • + Kích thước mạch xuyên

Hút mỡ tạo hình thành bụng có nguy hiểm không

Như với những ca đại phẫu thuật, hút mỡ có những rủi ro, chẳng hạn như chảy máu và phản ứng với thuốc gây mê. Các biến chứng có thể xảy ra đối với hút mỡ bao gồm: Đường vết mổ không thẩm mỹ. Da của bạn có thể xuất hiện mấp mô, gợn sóng hoặc khô héo do quá trình loại bỏ chất béo không đồng đều, độ đàn hồi của da kém và vết thương bất thường.

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-1
Hút mỡ tạo hình thành bụng có nguy hiểm không.

Nguyên ủy và các dạng phân nhánh của động mạch thượng vị dưới.

Theo nghiên cứu chúng tôi nguyên ủy của ĐMTVD trên nhóm xác và nhóm CLVT 64 dãy đều xuất phát từ ĐM chậu ngoài ở cả hai bên phải và trái. Trong nghiên cứu không ghi nhận những trường hợp cá biệt như Sanudo J.R. và cộng sự (1993), động mạch thượng vị dưới và động mạch bịt xuất phát như một thân chung từ động mạch mũ đùi ngoài (Quain, 1884; Duclaux, 1902; Adachi, 1928) hay kiểu 3 động mạch xuất phát trực tiếp từ một thân chung (Wood, 1882/83; Adachi, 1928). Cuối cùng, trong một trường hợp, động mạch thượng vị dưới và động mạch bịt xuất phát từ động mạch mũ đùi ngoài như các động mạch độc lập (Dschau, 1936/37).

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-2

Dạng ĐMTVD không phân nhánh (chỉ có 1 nhánh duy nhất) trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm đa số lên đến 83,4%, phù hợp với nghiên cứu của Minqiang X. là 82,4% và dạng phân thành 2 nhánh chiết 16,6% cũng phù hợp với tác giả Minqiang X. Nhưng với những tác giải còn lại thì tỷ lệ phân thành 2 nhánh chiếm cao hơn lên đến 50%. Dạng thứ 3 phân thành 3 nhánh cũng thấy đáng kể với tỷ lệ khoảng 10%, và dạng phân thành 4 nhánh hiếm thấy, khác với nghiên cứu của chúng tôi không thấy dạng 3 và 4. Sự khác biệt này có thể do về mặt chủng tộc và cần nghiên cứu với số lượng lớn hơn.

Còn chúng tôi nhận thấy ĐMTVD có 1 thân chung với đường kính lớn hơn 2 nhánh trong và ngoài sau khi chia thành 2 nhánh,phù hợp với định nghĩa phân loại mạch máu. Do tỷ lệ ĐMTVD chỉ có 1 nhánh duy nhất chạy vào cơ thẳng bụng từ đó tách ra các nhánh nuôi cơ và nhánh xuyên cơ da hay xuyên vách da, do đó chúng tôi nhận thấy đa số vị trí các nhánh xuyên này thuộc dãy trong vì nếu ĐMTVD phân thành 2,3 hay 4 nhánh thì vị trí các mạch xuyên này sẽ nằm phía ngoài nhiều hơn nghiên cứu này. Mối quan hệ giữa các loại phân nhánh động mạch thượng vị dưới và các nhánh xuyên cũng đã được nghiên cứu.

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-3

Dạng 2 được cho là có liên quan với khoảng cách ngang ngắn hơn của phần động mạch xuyên đi trong cơ, trong khí dạng 3 thì cho thấy khoảng cách ngang dài hơn. Số lượng động mạch xuyên không liên quan tới các dạng phân nhánh ĐMTVD. Ngoài ra theo Chowdhry S., nhánh ngoài liên quan mật thiết với thần kinh vận động cơ thẳng bụng nên khi bóc tách có thể làm tổn thương thần kinh này. Theo Lara J.A.H. động mạch thượng vị dưới dạng I và II có đường đi trong cơ ngắn hơn, đối với dạng II và III không nên bóc tách nhánh ngoài vì có nguy cơ  làm tổn thương thần kinh chi phối của vạt và các đoạn đi trong cơ gây khó khăn khi bóc tách. Do đó việc nghiên cứu dạng phân nhánh ĐMTVD sẽ giúp ích cho phẫu thuật viên trong quá trình bóc tách nhánh xuyên nuôi vạt.

 Vị trí ĐMTVD với cơ thẳng bụng và vị trí vào cơ trong phẫu thuật tạo hình thành bụng

Chúng tôi nhận thấy ĐMTVD đi vào cơ thẳng bụng chủ yếu ở vị trí 1/3 ngoài cơ lên đến gần 95%, còn lại số ít là ở 1/3 giữa cơ thẳng bụng và không ghi nhận vị trí ĐMTVD đi vào 1/3 trong cơ thẳng bụng. Việc khảo sát vị trí này có ý nghĩa liên quan đến vị trí mạch xuyên ra da. Kết quả khảo sát cho thấy mạch xuyên ra da thuộc dãy trong chiếm từ 93% – 100% còn nếu phân thành 3 dãy thì dãy trong 70% và dãy giữa 30% là hoàn toàn phù hợp với vị trí ĐMTVD trên cơ thẳng bụng.

Trên thực tế cũng có thể nhận thấy rằng đoạn đi trong cơ không có uốn lượn ra ngoài nhiều vì tỷ lệ mạch xuyên dãy ngoài không có, vùng này thuộc về mạch xuyên gian sườn. Kết quả trên khác Tansatit T. nhận thấy mạch xuyên phân thành ba dãy dọc trên lá trước bao cơ thẳng bụng, trong đó dãy trong tập trung nhiều mạch xuyên nhất 45,5%, dãy giữa 23,2% và dãy ngoài 31,4%. Sự khác biệt này cần được nghiên cứu thêm và có thể là do chủng tộc vì theo kinh điển các nhà giải phẫu học phương Tây mô tả ĐMTVD chạy hướng về rốn trong khi nghiên cứu chúng tôi có hướng lệch ra ngoài hơn.

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-4

Khảo sát điểm vào cơ thẳng bụng (tọa độ y) trên xác thấy có sự khác nhau giữa 2 bên phải trái với p=0,042. Ngoài ra, khoảng cách điểm vào cơ đến GCTT trên CLVT 64 dãy lớn gấp trên 1,5 lần ở xác và khoảng cách đó trên xác cũng tuân theo 2 khoảng chuẩn 40mm (phải 85,6mm, trái 82,3mm). Tọa độ X của điểm vào cơ trên CLVT 64 dãy bằng 0,8 lần khoảng cách trên xác nhưng tọa độ Y trên CLVT 64 dãy và xác không khác nhau lắm. Điểm vào cơ của ĐMTVD trên xác bằng ½ khoảng cách rốn mu hay nói khác đi bằng 2 khoảng 40mm.

Tỷ lệ tọa độ vị trí mạch xuyên đầu tiên xuất hiện theo trục dọc rốn mu (theo chiều từ dưới lên rốn) là 0,74 ± 0,1 bên phải và 0,7 ± 0,2 bên trái, mà điều này có nghĩa là vị trí mạch xuyên đầu tiên xuất hiện từ dưới lên 3 khoảng chuẩn 40mm. Kết quả này cho thấy vị trí điểm vào cơ và nhánh xuyên đầu tiên của chúng tôi cao hơn tác giả Chowdhry S. thấy khoảng cách từ rốn đến vị trí ĐM chui vào cơ thẳng bụng bằng 0,7 lần khoảng cách từ rốn đến xương mu; khoảng cách từ rốn đến mạch xuyên đầu tiên bằng 0,5 lần khoảng cách từ rốn đến xương mu.

Từ hai tỷ lệ này, vị trí ĐMTVD vào cơ tại vị trí 2/3 chiều dài rốn đến xương mu và nhánh xuyên đầu tiên có thể tìm thấy tại điểm giữa khoảng cách này. Sự khác biệt này có thể do chủng tộc, tuy nhiên kết quả rút ra từ nghiên cứu của chúng tôi tuân theo quy luật khoảng ¼ nên rất có giá trị ứng dụng trên lâm sàng thực hành.

Kích thước động mạch thượng vị dưới

Chúng tôi nhận thấy chiều dài ĐMTVD trên CLVT 64 dãy ngắn hơn trên xác từ 3 – 5cm, có thể giải thích do 2 nguyên nhân (1) ngắn thật sự trên người Việt (điều này cần phải nghiên cứu thêm) hay (2) do kỹ thuật chụp CLVT 64 dãy xác định mà điểm tận ĐMTVD nhỏ quá nên không thể xác định chính xác hết chiều dài mạch giống như trên phẫu tích xác nên thường thấy ngắn hơn. Cơ sở giải thích nguyên nhân thứ 2 là đường kính nguyên ủy ĐMTVD trên CLVT 64 dãy 1,9mm nhỏ hơn trên xác (từ 2,6 – 2,8mm) và tại các nhánh đo được là 1mm và quá nhỏ tại các đầu tận, do đó nghiêng về cách lý giải thích này nhiều hơn.

Chiều dài thân chung nghiên cứu của chúng tôi khoảng 10cm, Tansatit T. là 12,8cm, nhưng chiều dài trong trường hợp không phân nhánh lại dài 20cm gần gấp đôi chiều dài 11,7cm của Tansatit T.  Vậy đoạn mạch này là một thuận lợi cho việc kéo dài cuống vạt đến rốn, và có ý nghĩa với phẫu thuật viên khi phẫu tích cuống mạch vì đây là đoạn dễ bóc tách do nằm trong lớp tổ chức lỏng lẻo trên mạc ngang.

Trên xác đường kính thân chung 2,6mm lớn hơn so với nhánh ngoài và nhánh trong là 2mm, có nghĩa là đường kính thân chung lớn nhất sau đó chia thành 2 nhánh trong và ngoài với đường kính bằng nhau và lớn hơn đường kính thân chung 1,6mm trên phim CLVT 64 dãy mà điều này đã được giải thích ở trên.

Kết quả nghiên cứu này khá phù hợp với Tansatit T., nhánh ngoài của ĐMTVD thường là nhánh chính (đường kính lớn và dài hơn) trong đa số trường hợp 79%, trong khi tỷ lệ nhánh trong là nhánh chính chỉ chiếm 21%. Tansatit. T. cũng nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa chiều dài và đường kính của nhánh ngoài và nhánh trong của ĐMTVD với giá trị p > 0,05. Như vậy theo tác giả, khi lấy vạt DIEP, việc sử dụng mạch xuyên từ nhánh ngoài hay nhánh trong là không có sự khác biệt. Tuy nhiên lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của đường kính gốc trong trường hợp ĐMTVD có nhánh đôi và nhánh đơn (p < 0,05), nhưng không có sự khác biệt giữa chiều dài của hai loại phân nhánh này (p>0,05).

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-5

Sự khác biệt này có thể do mẫu nghiên cứu khác nhau trên người Việt, nhưng nhìn chung với kích thước này hoàn toàn đáp ứng tốt cho việc chuyển ghép vạt tự do.

Tác giả Pellegrin A. thấy ĐMTVD khi có đi kèm với ĐMTVN sẽ có đường kính nhỏ hơn đối với ĐMTVD khi không có sự hiện diện của ĐMTVN cùng bên. Tác giả đặt giả thuyết rằng sự phát triển vượt trội của ĐMTVN sẽ đồng nghĩa với sự giảm nguồn cấp máu từ ĐMTVD, vì vậy nếu trên phim chụp CLVT 64 dãy thấy ĐMTVN có đường kính lớn thì nên dùng vạt ĐMTVN thay cho vạt mạch xuyên từ ĐMTVD.

Nghiên cứu chúng tôi phù hợp với nhận định Lorenzetti F., đường kính động mạch thượng vị dưới cùng bên và của vùng đối bên là 1,9mm, lớn hơn động mạch thượng vị nông 1,6mm.

Theo Itoh Y. và cộng sự (1993), sự thông nối của động mạch thượng vị dưới và động mạch thượng vị trên được xác định khoảng 38,2% không phù hợp với nghiên cứu chúng tôi từ 70 – 80%, nhưng tỷ lệ thông nối của chúng tôi thấp hơn tác giả Nguyễn Trần Quýnh là 92,5%. Do đó chúng tôi dễ dàng thấy ĐMTVD khá dài chạy từ điểm giữa rốn lên phía mỏm mũi kiếm, khi lên gần mỏm mũi kiếm thì thông nối với ĐMTVT.

Kết hợp mục 4.3 và mục 4.2 định vị mạch xuyên theo tọa độ trên dưới rốn, nhận thấy mạch xuyên từ ĐMTVD lên đến khoảng 3 và thậm chí khoảng 4 trên rốn mà nguồn gốc của nó từ nhánh ĐMTVD. Itoh Y. nhận thấy 88,2% nhánh ngoài có đường kính lớn hơn, và điều quan trọng là nhánh ngoài hay nhánh trong là nhánh chiếm ưu thế, nhờ đó việc ứng dụng nhánh ngoài cho vạt da nhánh xuyên dạng đảo có nhiều thuận lợi hơn so với nhánh trong.

hut-mo-tao-hinh-thanh-bung-co-nguy-hiem-khong-6

Đặc điểm giải phẫu mạch xuyên động mạch thượng vị dưới

Chúng tôi khảo sát tổng số 328 mạch xuyên từ động mạch thượng vị dưới, rút ra một số đặc điểm chung sau: vị trí mạch xuyên xuất hiện dưới rốn và trên rốn chiếm tỷ lệ gần như bằng nhau 50% với đa số là nhánh xuyên cơ chiếm 65%, hầu như đi chếch đến trên 95% và thuộc dãy trong chiếm gần tới 99%.

+ Số lượng mạch xuyên

Số lượng mạch xuyên trung bình trong xác từ ĐMTVD gần như bằng nhau giữa hai bên với phải 5,3 mạch và trái 5,6 mạch và trên CLVT 64 dãy bên phải 5,6 mạch và bên trái 5,7 mạch. Các xác có 3, 4 và 7, 8 mạch xuyên chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 15%; cá biệt có xác chỉ cho 1 nhánh xuyên duy nhất và nhiều nhánh xuyên nhất là 11 nhánh.

Số lượng mạch xuyên trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với Tansatit T. là 6,5 mạch và Gagnon A.R. với 5 nhánh xuyên có đường kính trên 0,5mmm đến trên 1,5mm, nhiều hơn Masia J. với 3 mạch (1 – 5 mạch) và Nguyễn Trần Quýnh với trung bình 4,5 mạch. Sự khác biệt này có thể do mẫu nghiên cứu hay do chủng tộc.

Theo Gill P.S., việc khảo sát số lượng mạch xuyên sẽ giúp ích trên lâm sàng, khi số lượng nhánh xuyên tăng thì tỷ lệ các biến chứng cũng tăng theo. Thêm vào đó, nhiều nhánh xuyên thường xuyên được sử dụng ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ. Điều này có thể giải thích như sau: khi 1 hay 2 nhánh xuyên được sử dụng, chúng có đường kính lớn và có thể cung cấp 1 lượng máu lớn cho toàn bộ vạt. Trong trường hợp yêu cầu 4 hoặc 5 nhánh xuyên, thì sẽ không có sự cung cấp máu nhất quán và sự sống của vạt sẽ phải phụ thuộc vào nhiều mạch máu có đường kính nhỏ. Vì vậy, dù chỉ với 1 nhánh xuyên, sự cung cấp máu sẽ rất đầy đủ cho mô ghép hơn là nhiều nhánh. Để quyết định chính xác việc chọn lựa nhánh xuyên cần một quá trình học hỏi và kinh nghiệm lâu dài.

+ Phân loại và hướng mạch xuyên từ động mạch thượng vị dưới.

Xét trên tổng số 328 mạch xuyên nhận thấy đa số là nhánh xuyên cơ chiếm 65%, còn trên thứ tự nhánh xuyên xuất hiện, loại “M” gặp nhiều hơn đáng kể ở mạch xuyên 2,3 (hơn 60%), đến mạch xuyên 4, 5, 6; tỷ lệ này tăng lên 70% đến 90%. Dạng “S” chỉ ghi nhận cao ở nhóm mạch xuyên 1 với khoảng 60%. Trên hình ảnh CLVT 64 dãy chúng tôi không khảo sát được loại mạch xuyên.

Trên xác, các mạch xuyên hầu hết là theo hướng chếch ở cả hai bên phải, trái với tỷ lệ cao đáng kể ( gần 1005 ở cả hai bên), còn mạch xuyên hướng vuông góc chỉ ghi nhận được rất ít. Tỷ lệ loại và hướng đi mạch xuyên cơ của chúng tôi lớn hơn tác giả Tansatit T. là: mạch xuyên đi vuông góc 43,7%, các mạch xuyên ở vách gian cơ ra đến mô dưới da, chiều dài mạch xuyên thường ngắn, hướng đi của mạch vuông góc với thớ cơ nên khi bóc tách cuống mạch cần tách dọc thớ cơ mà không làm tổn thương cơ; mạch đi chếch 56,3%, mạch xuyên qua nhiều hơn một trẻ gân ngang cơ thẳng bụng để đến mô dưới da, cuống mạch trong trường hợp này dài hơn, tuy nhiên khi bóc tách cần phải cẩn thận vì phẫu tích vào cơ để giải phóng cuống mạch.

Sự khác biệt này có thể do về mặt chủng tộc. Nếu có điều kiện tốt hơn chúng tôi sẽ dùng CLVT đa lát cắt cao hơn như 128 dãy để khảo sát về loại và hướng đi vì chúng sẽ giúp ích trên lâm sàng cho phẫu thuật viên thao tác bóc tách vạt như một số tác giả đã nhận định.

Theo Lara J.A.H., phần đi trong cơ, mạch đi chếch cần phải bóc tách cơ nhiều hơn, nên mạch đi xuyên qua cân cơ thường được chọn hơn; theo Katz R.D., dạng II được ưa chuộng nhất, là mạch xuyên đi từ thân chính ĐMTVD dọc theo bờ trong cơ thẳng bụng xuống mặt sau cơ, dễ bóc tách vạt mà không cần tách cơ thẳng bụng, giảm thiểu biến chứng nơi lấy vạt. Dạng này chiếm 6,4% trong 5 dạng mà tác giả phân loại nhưng trong nghiên cứu trên xác của chúng tôi dạng này hầu như là chủ yếu. Theo Alonso Burgos A., một mạch xuyên vuông góc với mạc cân và đi ngắn trong cơ được xem là dễ thực hiện nhất cho vi phẫu.

Theo Cina A., hiểu biết về đường đi trong cơ của động mạch xuyên trước phẫu thuật sẽ giúp lựa chọn động mạch xuyên có đường đi ngắn nhất qua đó tiết kiệm thời gian phẫu thuật.

Phẫu thuật tạo hình thành bụng nâng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới đòi hỏi quá trình phẫu tích các nhánh xuyên một cách tỉ mỉ, tách rời nhánh xuyên với cơ và thần kinh vận động của nó. Quá trình nâng vạt cần có các kỹ năng cần thiets và thời gian mổ là rất đáng kể. Việc sử dụng kỹ thuật bóc tách vạt thông thường khó có thể đem lại cho phẫu thuật viên một tầm quan sát bao quát các nhánh xuyên. Điều này càng đặc biệt quan trọng khi không có nhánh xuyên trội thực sự cho vạt mà thay bằng nhiều nhánh xuyên nhỏ hơn.

Trong tình huống này việc lựa chọn nhánh cho cuống mạch vạt trở nên phức tạp hơn và có thể gặp trở ngại do sự hiểu biết không đầy đủ về mối liên quan giải phẫu của chúng. Bên cạnh đó, một số nhánh xuyên có một phần đi ngay dưới cân, nên có thể bị tổn thương khi phẫu tích theo kiểu trên cân thông thường.

Một vấn đề luôn đặt ra cho phẫu thuật viên khi phẫu tích vạt là sử dụng bao nhiêu nhánh xuyên để có thể cấp đủ máu cho vạt. Các phẫu thuật viên thường sử dụng sự phán đoán của mình để quyết định lựa chọn bao nhiêu nhánh xuyên. Nếu lựa chọn ít quá sẽ có nguy cơ không đảm bảo cấp máu cho vạt, nếu lựa chọn dư thừa sẽ tăng thời gian phẫu thuật, tăng sự tổn thương các cấu trúc giải phẫu liên quan như cơ và thần kinh. Trên thực tế nhiều phẫu thuật viên cho rằng chọn nhiều nhánh xuyên sẽ giúp cho việc tưới máu vạt tốt hơn một nhánh xuyên. Tuy nhiên, theo Taylor và cộng sự, mỗi nhánh xuyên sẽ tạo thành một vùng cấp máu giải phẫu riêng của nhánh và có sự kết nối với các nhánh xuyên kế cận, vì vậy có sự an toàn khi dùng một nhánh xuyên.

+ Kích thước mạch xuyên

Trên tổng số 328 mạch xuyên, chúng tôi nhận thấy đường kính trung bình các mạch xuyên gần bằng nhau là 1mm và không chênh lệch nhiều giữa hai bên, trong đó đường kính mạch xuyên 2 lớn nhất là 1,1mm, mạch xuyên 10 nhỏ nhất (phải 0,5mm; trái 0,6mm). Với đường kính mạch xuyên trên xác người Việt hơn 1mm thì trên bệnh nhân thực tế đường kính này sẽ lớn hơn vì kích thước mô trên xác ướp formol bị teo đi một phần, nhưng vẫn có giá trị tham khảo nghiên cứu. Đường kính mạch xuyên này lớn hơn tác giả Nguyễn Trần Quýnh nhận thấy hầu hết chỉ có đường kính từ 0,5 – 0,6mm. Sự khác biệt này có thể do mẫu nghiên cứu và đối với những xác ngâm formol lâu năm việc đo xác định những mạch nhỏ khó chính xác nên chỉ có giá trị tham khảo mà thôi.

Đường kính này có giá trị trên lâm sàng. Theo tác giả Cina A. động mạch xuyên thường được lựa chọn sử dụng trong kỹ thuật DIEP có đường kính động mạch trong khoảng từ 0,9 (đường kính nhỏ nhất đủ để nuôi dưỡng vạt da) đến 1,5mm (đường kính lớn nhất của động mạch xuyên tìm thấy ở vùng này). So sánh giữa các nghiên cứu trong y văn, một số phân loại nhánh xuyên với từ đường kính lớn hơn 0,5mm, một số khác phân loại lớn bằng 1mm và số còn lại vẫn sử dụng giới hạn dưới duy nhất là 1,5mm. Sự tăng đường kính các nhánh xuyên sẽ dẫn đến sự tăng về chất lượng phân bố các mạch máu trong vạt và làm giảm nguy cơ hoại tử.

Theo tác giả Cina A., động mạch xuyên chính nuôi dưỡng vạt da được lựa chọn dựa theo đường kính động mạch lớn nhất có thể. Boyd J.B. ghi nhận có mạch xuyên cơ da lớn (đường kính trên 0,5mm) của ĐMTVD có sự thông nối với các mạch xuyên kahcs của chính nó và với cả ĐMTVN. Điều này cũng được tác giả Weerd L. ghi nhận trên nghiên cứu khảo sát sức sống của vạt DIEP và vạt SIEA sau ghép. Tuy nhiên lựa chọn mạch xuyên nào, số lượng các nhánh xuyên lý tưởng, và sự tác động của đường kính và độ dài của những mạch máu này đối với sự cung cấp máu của vạt đều được dựa vào kinh nghiệm cá nhân trên cơ sở kiến thức giải phẫu học về cung cấp máu trên thành bụng.

Thực tế khi chúng tôi khảo sát mạch máu trên xác là khảo sát tĩnh, còn trên ngời sống hiện tượng thông nối, bù trừ động của mạch sẽ phong phú hơn. Tuy vậy đó là tiền đề để thực hiện tiếp theo trên bệnh nhân. Theo Rahmanian Schawarz A., sự trải rộng của dòng máu chảy đến vùng cùng bên hay đến vùng đối bên phụ thuộc vào đường kính nhánh xuyên. Tác giả đưa ra giả thuyết rằng quá trình trung hòa tại chỗ hay cả hệ thống có thể gây ra các khác biệt về sức mạnh dòng máu. Điều này kiểm soát tưới máu tại chỗ và chỉ được thấy ở mô cơ thể sống, không ở mô xác. Theo Patel S.A. mạch máu càng ngắn và đường kính càng lớn, kháng lực càng nhỏ và dòng chảy càng mạnh.

Nếu có hai mạch máu cùng bán kính và độ dài với một nhánh xuyên trước đó thì kháng lực tổng cộng sẽ được giảm đi một nửa nếu cả hai nhánh xuyên đều được dùng trong vạt xuyên và theo lý thuyết sẽ tăng gấp đôi dòng chảy đến vạt. Tỷ lệ thành công của các vạt phụ thuộc vào những nhánh xuyên có kích thước lớn và chiều dài nhỏ.

Liên hệ tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình

* Số điện thoại: 0911413443/ 0967588668
* Facebook bác sĩ: 
* Xem video thực tế tại: ĐÂY
* Hình ảnh thực tế ca phẫu thuật tại: https://tuvanthammytaohinh.vn/hinh-anh/

Bác sĩ Hồ Cao Vũ đã có hơn 20 năm chuyên bệnh lí lành tính và ung thư vú tại bệnh viện Chợ Rẫy, hơn 10 năm trong lĩnh vực thẩm mỹ và tạo hình sử dụng bằng dao Harmonic, dao Ligasure. Bs Vũ còn chuyên sửa các ca ngực hư, ngực lệch, ngực lộ túi, vỡ túi, bao xơ cấp độ 1 đến 4, tháo túi ngực… đã trải qua khóa đào tạo trực tiếp tại MD Aderson Cancer Center Hospital, Houston, Texas, USA tại Khoa phẫu thuật tạo hình Giáo sư David Chang là người hướng dẫn trực tiếp. Theo thông tin từ chính hãng Johnson & Johnson: “ThS. Bs. Hồ Cao Vũ là người đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam hiện nay sử dụng Harmonic Scalpel trong phẫu thuật vòng 1, tạo hình thành bụng”.

 

    X


    ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN
    MIỄN PHÍ

    This entry was posted in Tạo hình thành bụng and tagged Cắt mí, Nâng ngực, tạo hình thành bụng, Treo cung mày.

    Bài viết liên quan

    Sau phẫu thuật hút mỡ bụng phải nịt bụng bao lâu? Cần duy trì nịt bụng bao nhiêu tiếng 1 ngày
    Sau phẫu thuật hút mỡ bụng phải nịt bụng bao lâu? Cần duy trì nịt bụng bao nhiêu tiếng 1 ngày
    6117 lượt xem
    Có nên hút mỡ bụng hay không? Những lưu ý ai cũng nên biết
    581 lượt xem
    Giải đáp thắc mắc phẫu thuật tạo hình thành bụng cho phụ nữ sau sinh
    647 lượt xem
    tu-dich-sau-don-cam-02
    Thay đổi cảm giác thành bụng có nguy hiểm không?
    959 lượt xem
    tang-huyet-ap-sau-tao-hinh-thanh-bung-05
    Cách khắc phục tăng huyết áp sau tạo hình thành bụng
    806 lượt xem
    thuyen-tac-phoi-sau-tao-hinh-thanh-bung-01
    Thuyên tắc phổi sau tạo hình thành bụng nguy hiểm như thế nào?
    753 lượt xem
    tao-hinh-thanh-bung-cho-nguoi-trung-nien-6
    Thuyên tắc huyết khối sau tạo hình thành bụng: Làm sao để nhận biết?
    725 lượt xem
    doi-mau-da-sau-tao-hinh-thanh-bung-01
    Đổi màu da sau tạo hình thành bụng 
    733 lượt xem
    Hoại tử mỡ sau tạo hình thành bụng có nguy hiểm không?
    977 lượt xem
    Hình ảnh tạo hình thành bụng
    Hoại tử da sau tạo hình thành bụng nguy hiểm thế nào?
    740 lượt xem
    mat-3-mi
    Tê sau tạo hình thành bụng có nguy hiểm không?
    858 lượt xem
    seo-sau-tao-hinh-thanh-bung-01
    Sẹo sau tạo hình thành bụng là gì? Cách khắc phục
    900 lượt xem

      X


      ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN
      MIỄN PHÍ

      Bài viết xem nhiều

      Những điều cần biết về giả bao xơ và độ mềm mại của vòng 1 sau thẩm mỹ
      Những điều cần biết về giả bao xơ và độ mềm mại của vòng 1 sau thẩm mỹ
      13544 lượt xem
      cat-mi-mat-duoi-bi-hong-01
      Tiêu chuẩn của một ca cắt mí mắt đẹp của Ths.bs Hồ Cao Vũ
      7201 lượt xem
      Sau phẫu thuật hút mỡ bụng phải nịt bụng bao lâu? Cần duy trì nịt bụng bao nhiêu tiếng 1 ngày
      Sau phẫu thuật hút mỡ bụng phải nịt bụng bao lâu? Cần duy trì nịt bụng bao nhiêu tiếng 1 ngày
      6117 lượt xem
      nâng ngực sau bao lâu thì tập thể dục được
      Nâng ngực sau bao lâu thì tập thể dục được?
      4410 lượt xem
      Dao Harmonic là gì? Dao cầm máu tốt và không tổn thương mô
      3895 lượt xem
      Cách nhận biết phương pháp nâng ngực Harmonic thật và giả
      3443 lượt xem
      phau-thuat-thao-tui-nguc-ra-33
      Phẫu thuật lấy túi ngực ra của chị khách Việt Kiều
      3281 lượt xem
      doi-mau-da-sau-tao-hinh-thanh-bung-02
      Tạo hình thành bụng cho bệnh nhân thoát vị thành bụng, đã từng phẫu thuật ung thư đại tràng
      2971 lượt xem
      Quy trình tháo túi ngực không nghỉ dưỡng về trong ngày
      2910 lượt xem
      tu-dich-sau-nang-nguc-04
      Những vấn đề cần lưu ý trước khi nâng ngực
      2833 lượt xem
      Review bác sĩ Hồ Cao Vũ, chuyên gia nâng ngực uy tín tại TPHCM
      Phẫu thuật nâng ngực tự nhiên bằng dao siêu âm Ultrasonic Surgical Scalpel
      2506 lượt xem
      Túi nâng ngực nhỏ trở thành xu hướng của giới trẻ

      1 Comment

      2493 lượt xem
      Phẫu thuật tháo túi nâng ngực Eurosilicone
      2249 lượt xem
      mo-phong-do-nghieng-sun-mi-02
      Tiểu phẫu nhấn mí mắt tạo hồn mắt vui tươi tinh anh
      2156 lượt xem
      Phẫu thuật nâng ngực sa trễ qua đường quầng vú
      2113 lượt xem
      Các bước trong quy trình phẫu thuật nâng ngực bằng dao Harmonic
      1944 lượt xem
      Các biến chứng thường gặp sau nâng ngực cần biết
      1917 lượt xem
      Biến chứng nâng ngực bị thông khe sau phẫu thuật
      1905 lượt xem
      Phẫu thuật tháo túi nâng ngực motiva nano chip sau 3 năm
      1809 lượt xem
      thao-tui-nguc-mentor-77
      Chị khách Việt Kiều Mỹ tháo túi ngực Mentor sau 15 năm
      1766 lượt xem
      Phẫu thuật tháo túi nhám sau 12 năm nâng ngực gặp tình trạng bao xơ độ 2 độ 3
      1640 lượt xem
      Nên lưu ý kiêng ăn gì sau khi nâng ngực tránh sẹo xấu
      1590 lượt xem
      nang-nguc-lep-001
      Phẫu thuật nâng ngực an toàn bằng dao Harmonic V100016
      1589 lượt xem
      cat-mi-mat-197
      Tiểu phẫu chỉnh mắt lỗi sau thẩm mỹ cắt mí mắt tại TMV khác
      1575 lượt xem
      theo-tui-nguc-109
      Tháo túi ngực có nguy hiểm không? Trao đổi cùng Bác sĩ – Thạc sĩ Hồ Cao Vũ
      1556 lượt xem
      Đặt túi ngực quá lớn trong nâng ngực gây nên biến chứng ngực thông khe
      1447 lượt xem
      Nâng ngực có để lại sẹo không
      Nâng ngực có để lại sẹo không? Yếu tố ảnh hưởng đến sẹo
      1434 lượt xem
      tao-hinh-thanh-bung-5
      Vai trò của dao mổ siêu âm Harmonic trong phẫu thuật tạo hình thành bụng
      1359 lượt xem
      Biến chứng vỡ túi nâng ngực sau thẩm mỹ nâng vòng 1 – V100028
      1255 lượt xem
      giải đáp thắc mắc khi nâng ngực
      Phẫu thuật thu gọn treo sa trễ ngực bằng dao Harmonic
      1252 lượt xem
      Điều cần biết về phẫu thuật tạo hình thành bụng sau sinh
      1117 lượt xem
      Vết sẹo thẩm mỹ trong phẫu thuật tạo hình thành bụng.
      1012 lượt xem
      Nỗi sợ sau ba lần phẫu thuật thẩm mỹ nâng ngực bị hỏng
      974 lượt xem
      Phẫu thuật thu gọn ngực được thực hiện như thế nào
      902 lượt xem
      Những biến chứng nâng ngực nguy hiểm cần lưu ý
      817 lượt xem
      Khác nhau giữa túi ngực nhám và túi ngực trơn trên cùng 1 cơ thể
      Khác nhau giữa túi ngực nhám và túi ngực trơn trên cùng 1 cơ thể
      13 lượt xem

      Thông tin liên hệ:
      0911.413.443
      0967.588.668

      Đăng ký theo dõi bản tin

        Thông tin liên hệ

        Ths.Bs Hồ Cao Vũ cố vấn của trang thông tin

        0911.413.443

        cskh@hocaovu.vn

        https://tuvanthammytaohinh.vn/

        Mạng xã hội

        DMCA.com Protection Status

        Các đơn vị đồng hành

        Tư vấn phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình bác sĩ Hồ Cao Vũ - BV Chợ Rẫy

          X


          ĐĂNG KÝ NHẬN TƯ VẤN
          MIỄN PHÍ

          Copyright 2026 © TƯ VẤN THẨM MỸ TẠO HÌNH
          Chính sách bảo mật - Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
          • Trang chủ
          • Thẩm mỹ
            • Thẩm mỹ nâng ngực
            • Treo ngực sa trễ
            • Tái tạo vú
            • Tháo túi độn
            • Tạo hình thành bụng
            • Thẩm mỹ vùng mắt
            • Cắt mí
            • Căng da mặt
            • Thẩm mỹ nâng mông
            • Nâng mũi
            • Thẩm mỹ vùng kín
            • Độn cằm
          • Hồ sơ bác sĩ
          • Video
          • Hình ảnh
            • Nâng ngực
            • Nâng cung mày
            • Hình ảnh nâng mũi
            • Hình ảnh độn cằm
            • Hình ảnh cắt mí
            • Nhấn mí
            • Tạo hình thành bụng
            • Tháo túi ngực
          • Câu hỏi thường gặp
            • Chăm sóc sau phẫu thuật
            • Câu chuyện
              • Tháo túi ngực
            • Bệnh lý
          • Tin tức
          • Liên hệ